Khóa luận: Giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân tại xã Mỹ Hưng, Cao Bằng

Khóa luận phân tích thực trạng đói nghèo và đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân tại Cao Bằng, dựa trên số liệu thực tế.

Trường đại học

Trường Đại học Nông Lâm

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là một trong những thách thức lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam hiện nay. Tại vùng miền núi phía Bắc như Cao Bằng, đặc biệt là xã Mỹ Hưng huyện Phục Hòa, tỷ lệ hộ nông dân nghèo vẫn còn cao. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các giải pháp giảm nghèo bền vững thông qua cải thiện điều kiện kinh tế-xã hội của hộ nông dân. Mục tiêu không chỉ là nâng cao thu nhập ngắn hạn mà còn xây dựng nền tảng phát triển lâu dài, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng cuộc sống. Đây là yêu cầu cấp thiết đối với các vùng nông thôn, nơi mà nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính.

1.1. Định nghĩa hộ nông dân và đặc điểm kinh tế

Hộ nông dân là đơn vị sản xuất nông nghiệp cơ bản, sử dụng lao động gia đình để canh tác đất đai và chăn nuôi. Tại Cao Bằng, hộ nông dân chủ yếu hoạt động trên cơ sở nông nghiệp nhỏ, với diện tích đất hạn chế và công nghệ truyền thống. Họ phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, giá cả thị trường và tiếp cận tín dụng.

1.2. Tiêu chuẩn nghèo và cách đo lường

Tiêu chuẩn nghèo ở Việt Nam được xác định dựa trên thu nhập bình quân đầu người. Theo các giai đoạn khác nhau, chuẩn này được điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế. Ngoài thu nhập, chỉ số phát triển con người (HDI)chỉ số nghèo đa chiều (MPI) cũng được sử dụng để đánh giá mức độ giảm nghèo.

II. Tình hình kinh tế xã hội tại xã Mỹ Hưng huyện Phục Hòa

Xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng là một vùng nông thôn miền núi với những thách thức đặc biệt. Theo dữ liệu từ năm 2015-2017, tỷ lệ hộ nghèo tại đây còn khá cao. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng hạn chế và tiếp cận thị trường khó khăn đã tạo nên những rào cản trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vùng này có tiềm năng về nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt cây công nghiệp. Chương trình 135 và các chính sách hỗ trợ khác đã giúp cải thiện đáng kể tình hình của người dân. Việc phân tích chi tiết về sử dụng đất đai, cơ cấu cây trồng và hoạt động chăn nuôi cung cấp cơ sở để xây dựng các giải pháp giảm nghèo bền vững.

2.1. Điều kiện tự nhiên và sử dụng đất đai

Địa hình xã Mỹ Hưng là vùng đồi núi, với khí hậu ôn đới và lượng mưa cao. Phần lớn đất là đất nông nghiệp, tập trung chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp. Diện tích đất bình quân trên đầu người hạn chế, yêu cầu sử dụng đất đai một cách hiệu quả để tối đa hóa sản xuất.

2.2. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tập trung vào trồng lúa,玉米 (ngô), cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc. Năng suất và sản lượng dao động qua các năm, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Chăn nuôi gia cầm, lợn là hoạt động bổ sung quan trọng. Các hộ nông dân cần được hỗ trợ về kỹ thuật, giống cây và vật nuôi chất lượng cao để nâng cao hiệu quả.

III. Nguyên nhân chính gây ra đói nghèo tại địa phương

Đói nghèo tại xã Mỹ Hưng là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố. Trước hết, cơ sở hạ tầng yếu kém làm khó khăn cho tiếp cận thị trường và dịch vụ công ích. Thứ hai, mức giáo dục của người dân còn thấp, hạn chế khả năng tiếp nhận kỹ thuật mới và quản lý sản xuất. Thứ ba, tiếp cận tín dụng và vốn vay khó khăn khiến hộ nông dân không thể đầu tư vào cải thiện sản xuất. Các yếu tố về thị trường, giá cả nông sản cũng ảnh hưởng lớn. Cuối cùng, nạn dịch bệnh cây trồng và vật nuôi gây thiệt hại đáng kể. Việc xác định chính xác các nguyên nhân này là cơ sở để xây dựng các giải pháp giảm nghèo bền vững có tính hiệu quả cao.

3.1. Các rào cản kinh tế và xã hội

Hộ nông dân thiếu vốn đầu tư, tiếp cận tín dụng với lãi suất cao. Kiến thức sản xuất hạn chế, kỹ năng quản lý kinh tế yếu. Thiếu thông tin thị trường, khó khăn trong tiếp cận các kênh tiêu thụ sản phẩm. Các chính sách hỗ trợ chưa đạt hiệu quả cao do việc triển khai chưa tối ưu.

3.2. Những thách thức từ điều kiện tự nhiên

Thời tiết cực đoan, hạn hán hoặc lũ lụt gây mất mùa. Diện tích đất hạn chế, chất lượng đất bị suy thoái do canh tác lâu năm. Dịch bệnh cây trồng, vật nuôi xảy ra thường xuyên. Thiên tai làm tăng chi phí sản xuất và giảm thu nhập hộ gia đình.

IV. Giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân

Để đạt được giảm nghèo bền vững, cần xây dựng chiến lược toàn diện, kết hợp nhiều giải pháp. Thứ nhất, phát triển hạ tầng nông thôn, cải thiện đường giao thông, điện nước. Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo kỹ năng cho nông dân, giúp họ tiếp nhận công nghệ mới. Thứ ba, hỗ trợ tiếp cận tín dụng với lãi suất ưu đãi, phát triển các mô hình kinh tế tập thể. Thứ tư, khuyến khích chuyên môn hóa sản xuất, phát triển các sản phẩm có giá trị cao. Thứ năm, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp bền vững, tránh suy thoái tài nguyên. Cuối cùng, xây dựng mạng lưới tiếp thị, giúp nông dân tiếp cận thị trường tốt hơn. Những giải pháp này cần được kết hợp với những chính sách hỗ trợ xã hội để hoàn thành mục tiêu giảm nghèo bền vững.

4.1. Các chương trình hỗ trợ và chính sách hiện tại

Chương trình 135 cung cấp hỗ trợ tín dụng cho hộ nông dân nghèo. Hỗ trợ tiền điện giúp giảm chi phí sinh hoạt. Các dự án nước sạch, vệ sinh cải thiện điều kiện sống. Chính sách hỗ trợ giống cây, vật nuôi mới. Tuy nhiên, cần nâng cao hiệu quả triển khai và mở rộng phạm vi hỗ trợ.

4.2. Những nguyện vọng và định hướng phát triển của hộ nông dân

Hộ nông dân mong muốn cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng, cung cấp nước sạch, điện ổn định. Cần đào tạo kỹ năng, hỗ trợ tiếp cận công nghệ canh tác hiện đại. Khát vọng tiếp cận tín dụng dễ dàng, hỗ trợ để phát triển kinh tế. Mong muốn xây dựng các mô hình hợp tác xã, kinh tế tập thể để nâng cao sức cạnh tranh.

18/12/2025
Khóa luận tốt nghiệp giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân trên địa bàn xã mỹ hưng huyện phục hòa tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Đánh giá công tác giảm nghèo của địa phương và đưa ra giải pháp 4 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm về hộ nông dân 2. Khái niệm về hộ Hộ đã có từ rất lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau xong vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”.

Qua nguyên cứu cho thấy có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: - Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. - Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”[6]. Đây mới chủ yếu nêu lên những khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất.

Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau: - Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống. - Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có chương trình kế hoạch sản xuất kinh doanh, có vốn chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước… - Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế. Hộ nông dân Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân.

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế của xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [7]. Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức của cá nhân, tôi cho rằng: - “Hộ nông dân là những hộ sinh sống ở vùng nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài hoạt động nông nghiệp hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ …) ở các mức độ khác nhau. Khái niệm về nghèo và tiêu chuẩn nghèo 2. Khái niệm về nghèo Trên thế giới nghèo được quan niệm: Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về nghèo đói là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [2].

Từ khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đưa ra khái niệm nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [2]. Liên hợp quốc đã đưa ra hai khái niệm nghèo là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham gia vào các quyết định cộng đồng.

- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định phụ thuộc chung vào mức sống xã hội. Như vậy, 6 nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Việt Nam nghèo được quan niệm: Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định [1].

Như vậy, nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà còn ở cả những phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân. Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo trên thế giới Tiêu chí đánh giá theo thu nhập bình quân đầu người: Năm 1997 Ngân hàng thế giới đã đưa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dưới 370 USD/người/năm. Bên cạnh đó khi sử dụng chỉ tiêu này các quốc gia thường xác định thu nhập bình quân đầu người của quốc gia. Hộ có thu nhập bình quân đầu người ít hơn 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân đầu người của quốc gia được coi là hộ nghèo.

Hiện nay, tiêu chí đánh giá theo thu nhập đang được sử dụng khá phổ biến ở các nước trên thế giới vì nó có ưu điểm là dễ sử dụng. Tuy nhiên, xét về tổng thể thì nếu chỉ xét về thu nhập bình quân đầu người sẽ không phản ánh đầy đủ được sự thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Do vậy, cần phải có sự tiếp cận khác toàn diện hơn, đầy đủ hơn để đánh giá sự đói nghèo. Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo của việt Nam: Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn còn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc năm.

Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Tại việt nam Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội là cơ quan được chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, 7 nghiên cứu và đề xuất Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo từng giai đoạn (xem bảng 1. Mức chuẩn nghèo giai đoạn 2016 -2020 áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ - TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020. Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo 1.Giai đoạn 1993 - 1994 <= mức Vùng nông thôn Kg gạo/người/tháng 15 Vùng thành thị Kg gạo/người/tháng 20 2.Giai đoạn 1195 - 1997 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg gạo/người/tháng 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg gạo/người/tháng 20 Vùng thành thị Kg gạo/người/tháng 25 3.

Giai đoạn 1998-2000 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 55.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 70.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 90. Giai đoạn 2001-2005 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 80.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 100.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 200.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 400.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 500.

Giai đoạn 2016-2020 Vùng nông thôn Đồng/người/tháng 700.000 Vùng thành thị Đồng/người/tháng 900.000 (Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) Sự thay đổi từ việc lấy mức chuẩn nghèo bằng hiện vật (gạo) sang chuẩn nghèo bằng giá trị (tiền) đã cho thấy công cuộc giảm nghèo của Việt Nam có một bước tiến 8 mới, thể hiện sự tiến bộ trong tiêu chuẩn đánh giá đói nghèo. Mặt khác, chuẩn nghèo Việt Nam thường xuyên được nâng lên nhằm tiếp cận với chuẩn nghèo thế giới khẳng định sự quyết tâm xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Gần đây, Chính phủ thường công bố thay đổi mức chuẩn nghèo 5 năm một lần và trước kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và bầu cử Quốc hội là một căn cứ quan trọng cho các định hướng và giải pháp và giảm nghèo trong từng giai đoạn của Việt Nam. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế Việt Nam cũng đang tiếp cận đến vấn đề nghèo đa chiều trong chuẩn nghèo của Việt Nam.

Các nguyên nhân của đói nghèo 2. Các nguyên nhân đói nghèo trên thế giới và Việt nam a. Nguyên nhân đói nghèo trên thế giới Sự thiếu hiểu biết: Sự thiếu hiểu biết ở đây được hiểu là sự thiếu thông tin và kiến thức, việc thiếu thông tin, kiến thức ảnh hưởng lớn đến tư duy, nhận thức và cách cư xử của con người đối với các tác động bên ngoài. Điều quan trọng là phải xác định những thông tin mà người nghèo đang bị thiếu hụt để có giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nghèo.

Bệnh tật: Khi trong một cộng đồng dân cư có tỉ lệ bệnh tật cao, dẫn đến sự thiếu vắng về lao động có chất lượng cao, năng suất lao động sẽ giảm sút như vậy của cải vật chất được tạo ra sẽ ít đi, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội. bệnh tật không chỉ gây ra sự khổ cực, đau buồn, chết chóc, bệnh tật còn là nhân tố chính của sự đói nghèo, nó làm cho người nghèo không thoát ra khỏi sự nghèo và ngày càng nghèo hơn. Sự thờ ơ: Sự thờ ơ, sự bàng quang, sự không quan tâm hoặc cảm thấy bất lực, không muốn thay đổi dù là sửa chữa sai lầm hay cải thiện điều kiện hiện tại của bản thân con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ