phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung đƣợc chia làm 3 chƣơng, 6 tiết. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP, LUẬT, PHÁP LỆNH 1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP, LUẬT, PHÁP LỆNH 1. Khái niệm của Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở nƣớc ta hiện nay Theo lý luận về nhà nƣớc và pháp luật, pháp luật có những phƣơng thức tồn tại khác nhau.
Lịch sử phát triển của pháp luật đã ghi nhận ba hình thức phổ biến là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật[21, tr. Tuy nhiên, ở các nƣớc khác nhau thì có cách thức nhìn nhận khác nhau về hình thức của pháp luật. Ở các nhà nƣớc chủ nô, phong kiến và một số nƣớc tƣ sản có pháp luật đƣợc tổ chức theo hệ thống thông luật (Common law) hay còn gọi là hệ thống luật anglo-saxon, hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thì tập quán pháp và tiền lệ pháp là các hình thức pháp luật phổ biến, đƣợc coi trọng và là nguồn cơ bản của pháp luật. Một khi chúng đƣợc nhà nƣớc thừa nhận thì mặc nhiên trở thành pháp luật và là cơ sở có tính pháp lý cho các cơ quan dựa vào để giải quyết các vụ việc.
Chúng càng trở nên có ý nghĩa hơn nữa khi trở thành án lệ và khi đó chúng đƣợc dùng để “giải quyết một việc nhƣ vạn việc”[72]. Nhƣng, tại các nƣớc xã hội chủ nghĩa và một số nƣớc tƣ sản, theo hệ thống luật thực định (Civil law) hay còn gọi là hệ thống dân luật, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, Continental Law (đại diện là Pháp, Đức) thì văn bản quy phạm pháp luật là hình thức duy nhất đƣợc thừa nhận và sử dụng[21, tr. Việt Nam với chế độ xã hội chủ nghĩa và truyền thống pháp luật thực định kiểu mới[21, tr.265] nên hình thức pháp luật duy nhất đƣợc thừa nhận và sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật đƣợc hiểu là văn bản do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa; chúng bao gồm các hình thức và đƣợc sắp xếp theo thứ tự pháp lý từ cao đến thấp nhƣ sau: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH;.
nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân[6]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, Hiến pháp, luật, pháp lệnh là những văn bản quy phạm pháp luật. Chúng tồn tại độc lập với nhau dƣới vai trò của một bộ phận nhƣng lại thống nhất với nhau trong một chỉnh thể thống nhất là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam. Khái niệm Hiến pháp Hiến pháp là thuật ngữ đƣợc bắt nguồn từ chữ latinh “Consitutio” có nghĩa là thiết lập, xác định.
Trải qua quá trình phát triển, phải đến thời kỳ tƣ sản (cách mạng tƣ sản Anh (1640-1654)), thuật ngữ Hiến pháp mới đƣợc hiểu một cách đầy đủ theo nghĩa hiện đại nhƣ bây giờ với tính chất là luật cơ bản. Tuy nhiên, để định nghĩa Hiến pháp, các nhà khoa học khác nhau, với các góc độ nhìn nhận khác nhau lại đƣa ra các định nghĩa khác nhau. Dƣới góc độ Hiến pháp là một sự kiện chính trị pháp lý hay chức năng chính trị thì Hiến pháp là văn bản ghi nhận mối tƣơng quan lực lƣợng chính trị trong xã hội khi Hiến pháp mới đƣợc ban hành. Dƣới góc độ tính trội của Hiến pháp, Stécnơ – giáo sƣ ngƣời Đức coi Hiến pháp là những quy định có tầm cao nhất nhằm điều chỉnh việc tổ chức nhà nƣớc, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nƣớc, hình thức, cơ cấu và mối quan hệ của nhà nƣớc với công dân[19, tr.
Xét về mặt nội dung, Hiến pháp là tất cả các quy tắc pháp lý quan trọng nhất của quốc gia, ấn định hình thể quốc gia, ấn định các cơ quan điều khiển quốc gia cùng những thẩm quyền của các cơ quan ấy; là văn bản phản ánh tổ chức chính trị của quốc gia[52, tr. Theo từ điển Tiếng Việt “Hiến pháp” đƣợc hiểu là “đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc, quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức bộ máy Nhà nƣớc”[58, tr. Tính “cơ bản” của Hiến pháp đƣợc thể hiện dƣới các đặc điểm riêng sau đây: - Về chủ thể, Hiến pháp do Quốc hội - cơ quan đại diện quyền lực Nhà nƣớc cao nhất ban hành theo một trình tự, thủ tục đặc biệt; - Về nội dung, Hiến pháp là văn bản mang ý nghĩa chính trị - pháp lý, vì Hiến pháp là văn bản có đối tƣợng điều chỉnh rộng, bao quát, quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng và quyết định của đời sống kinh tế - xã hội; là văn bản duy nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhà nƣớc; là hình thức pháp lý, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phƣơng tiện pháp lý thể hiện một cách tập trung nhất tƣ tƣởng của đảng trong một giai đoạn phát triển của đất nƣớc; - Về giá trị pháp lý, Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất; các quy định của Hiến pháp là nguồn, là căn cứ có giá trị xuất phát điểm cho tất cả các ngành luật khác. Các văn bản quy phạm pháp luật khác phải phù hợp Hiến pháp, đƣợc ban hành trên cơ sở Hiến pháp và để thi hành Hiến pháp; nếu vi phạm sẽ bị xóa bỏ.
Nhƣ vậy, hiểu một cách chung nhất, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, do Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành theo một trình tự, thủ tục đặc biệt; là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất thể hiện tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng dưới những quy phạm pháp luật, quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng và quyết định của đời sống kinh tế - xã hội; là cơ sở pháp lý bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật của một quốc gia. Khái niệm luật Luật là thuật ngữ đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa. Nhƣng nếu hiểu theo ý nghĩa pháp lý, luật là văn bản do cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất ban hành, quy định những phép tắc trong quan hệ xã hội buộc mọi ngƣời phải tuân theo[57, tr. Vậy, luật là một loại văn bản quy phạm pháp luật, nhƣng đƣợc phân biệt với các văn bản khác nhờ các đặc điểm riêng sau đây: - Luật chỉ do Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất ban hành với trình tự, thủ tục ban hành do luật định.
Nghị quyết của Quốc hội về cơ bản là giống luật nhƣng nội dung của nó tập trung vào những vấn đề quan trọng của đất nƣớc nhƣ: kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, chính sách tài chính, chính sách dân tộc, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và một số vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội; có trình tự, thủ tục ban hành đơn giản hơn luật; - Luật chứa đựng những nội dung cơ bản “nhằm cụ thể hoá đƣờng lối, chính sách của Nhà nƣớc, điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc từng lĩnh vực của đời sống xã hội”[49, tr.27]; 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về giá trị pháp lý, luật có giá trị pháp lý chỉ sau Hiến pháp; thông thƣờng, luật có hiệu lực trong một thời gian dài, đối tƣợng thi hành rộng và tƣơng đối ổn định, có hiệu lực không gian trên phạm vi toàn lãnh thổ. Nhƣ vậy, luật được hiểu là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội - cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành theo một trình tự, thủ tục luật định; có hiệu lực cao chỉ sau Hiến pháp; nhằm thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ý chí, nguyện vọng của nhân dân dưới dạng các quy phạm pháp luật; điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội. Khi nghiên cứu khái niệm “luật”, cần lƣu ý rằng, trên thực tế còn tồn tại thuật ngữ “bộ luật”. Tuy nhiên, về bản chất, bộ luật chính là văn bản luật, nhƣng có mức độ và phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ đối tƣợng điều chỉnh của một nghành luật mang tính pháp điển cao hơn luật.
Ví dụ: Bộ luật Dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động. Bộ luật chỉ là thuật ngữ pháp lý đi cùng với luật, tƣơng đồng về tính chất và đặc điểm cơ bản với luật. Khái niệm pháp lệnh Đây là một thuật ngữ không phổ biến nhƣ Hiến pháp và luật. Theo “Từ điển thuật ngữ pháp lý” của tác giả Gerard Cornu (Pháp), pháp lệnh (ordonnance) là loại trung gian giữa văn bản pháp quy (do cơ quan hành chính ban hành) và luật[79, tr.
Còn theo tác giả Jay M. Shafritz trong cuốn “Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ”, pháp lệnh (ordinance) là quy định của chính quyền địa phƣơng, nó có sức mạnh của luật nhƣng phải tuân thủ pháp luật liên bang và bang, đƣợc ban hành dƣới danh nghĩa trao quyền (nhƣ một Hiến chƣơng thành phố) hoặc dƣới danh nghĩa một thực thể chủ quyền (nhƣ là một bang)[dt. Ở nƣớc ta, trƣớc Hiến pháp 1992, khái niệm pháp lệnh đã đƣợc quy định, nhƣng chƣa đƣợc làm rõ về phạm vi và hiệu lực để phân biệt nó với luật, nghị quyết. Chỉ đến Hiến pháp 1992, pháp lệnh mới thật sự đƣợc làm rõ.
Theo đó, UBTVQH là cơ quan có thẩm quyền banh hành pháp lệnh nhƣng “pháp lệnh quy định những vấn đề Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thay luật”[6]. Nhƣ vậy, về bản chất, pháp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lệnh là sản phẩm của hoạt động uỷ quyền lập pháp. Thực tế hoạt động ban hành pháp lệnh của UBTVQH trong những năm qua cho thấy, pháp lệnh là văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh và đối tƣợng áp dụng giống nhƣ luật, nhƣng thƣờng là giải pháp tạm thời, là “liều thuốc thử” trong những vấn đề mới, chƣa ổn định, chƣa có kinh nghiệm thực tiễn; là hình thức để “lấp đầy lỗ hổng” các quan hệ xã hội chƣa đƣợc luật điểu chỉnh.