phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu 3 chương, cụ thể: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án ở Việt Nam Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tại Tòa án ở Việt Nam 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƢỜNG NHÀ NƢỚC TẠI TÒA ÁN 1.Khái quát về trách nhiệm bồi thƣờng của Nhà nƣớc 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Trong tiếng Việt, thuật ngữ “trách nhiệm” gần nghĩa với thuật ngữ “nghĩa vụ”, theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2003 thì trách nhiệm là “Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm trong, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; hoặc sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”[19], tr.1020], nghĩa vụ là “việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác” [19], tr. Xét về phương diện pháp lý, trách nhiệm là dạng trách nhiệm phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật. Xét về phương diện đạo đức xã hội, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lý, đạo đức.
Ở phương diện này, trách nhiệm của Nhà nước được quan niệm với triết lý: Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, vì vậy nhà nước có quyền thay mặt nhân dân chủ động và độc lập quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại. Đó là quyền lực được nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đồng thời là trách nhiệm của Nhà nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội, bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trách nhiệm của Nhà nước là khái niệm có phạm vi rộng lớn, nhiều cấp độ và phức tạp, bởi Nhà nước vốn là một trong những chủ thể chính trị - xã hội và pháp lý thuộc loại phức tạp nhất. Trách nhiệm của Nhà nước trước hết bắt nguồn từ khái niệm trách nhiệm trong đời sống xã hội.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, ở góc độ chung nhất có thể hiểu, trách nhiệm là sự ràng buộc trong các mối liên hệ giữa con người với nhau, trong đó, các cá nhân, tổ chức hoặc tổ chức cao nhất của một quốc gia đó là Nhà nước phải thực hiện các nghĩa vụ đối với người khác hoặc đối với cộng đồng. Thiệt hại, dưới góc độ ngôn ngữ học, được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”[42],tr. Trong khoa học pháp lý, theo quan niệm truyền thống thì “thiệt hại” được hiểu là “tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ”[66],tr. Dưới góc độ luật thực định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong BLDS năm 1995 được xác định bao gồm: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” (Điều 310).
Trong BLDS năm 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: “trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần” (Điều 307). Quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong BLDS năm 2015 thì xác định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” (Điều 584). Như vậy, theo quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại thì thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về tinh thần bao gồm “tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân” và thiệt hại về vật chất bao gồm “tài sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được”.
Tóm lại, thiệt hại có thể hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động từ bên ngoài. Dưới góc độ ngôn ngữ học, “bồi thường” được hiểu là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra”[42],tr. Với quan 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động bên ngoài như đã phân tích ở trên, thì bồi thường thiệt hại có thể hiểu là trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật hiện tượng; vì vậy, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại. Về mặt pháp lý, thiệt hại là những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm; vì vậy, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại những tổn thất trên bằng giá trị vật chất hoặc những cách thức và tiêu chí do pháp luật quy định.
Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì vậy bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Khi xem xét chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại thì Nhà nước với tư cách là một chủ thể đặc biệt, hoạt động với mục tiêu là phải bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân; khi Nhà nước thực hiện quyền lực công (thông qua các hành vi thi hành công vụ của đội ngũ công chức) mà gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường. Hiện nay, có khá nhiều khái niệm về TNBTCNN được nhiều tác giả đưa ra dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, cụ thể là: Quan điểm thứ nhất cho rằng, “TNBTCNN là hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất và tinh thần mà Nhà nước phải gánh chịu do công chức cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trái pháp luật trong thi hành công vụ, gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho cá nhân, tổ chức”[24]. Quan điểm thứ hai cho rằng, “TNBTCNN là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần, uy tín, danh dự khi người thi hành công vụ gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi quyền lực công”[22],tr.12] hoặc “TNBTCNN là trách nhiệm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp lý mà theo đó, Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn hại về tinh thần khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật làm gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi quyền lực công”[44] hoặc “TNBTCNN là trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước”[46].
Quan điểm thứ ba cho rằng, “TNBTCNN là tổng thể các quy định của pháp luật và biện pháp thi hành để thực hiện trách nhiệm của Nhà nước nhằm khắc phục những hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã gây ra do xâm phạm quyền tư pháp bằng cách bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần và khôi phục danh dự, uy tín, nhân phẩm cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự” [71] hoặc “TNBTCNN là việc Nhà nước thực hiện thủ tục do pháp luật quy định để khôi phục, bù đắp những tổn thất tài sản, bù đắp những tổn thất tinh thần khi cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; tài sản, uy tín của tổ chức trong khi thi hành công vụ”[63], tr. Quan điểm thứ tư cho rằng, “TNBTCNN là hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do các CQNN có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện TNBTCNN, xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ và hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường”[23]. Quan điểm thứ năm cho rằng, TNBTCNN là một dạng trách nhiệm dân sự nhưng theo nguyên tắc thay thế, theo đó, TNBTCNN là một dạng trách nhiệm dân sự thay thế, tức là, TNBTCNN “được hiểu là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho những thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ra”[65],tr. Quan điểm này cho rằng, TNBTCNN là trách nhiệm của cá nhân người thi hành công vụ nhưng vì người thi hành công vụ nhân danh Nhà nước trong thực thi công vụ nên Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thay cho người thi hành công vụ.
Cùng dưới góc độ này là quan điểm cho rằng, TNBTCNN là trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước mà không phải là trách nhiệm thay thế cho trách nhiệm của người thi hành công vụ. Quan điểm này dựa trên lập luận cho rằng “hành vi của người thi hành công vụ được coi là hành vi của Nhà nước, vì vậy, nếu người thi hành công vụ có hành vi gây thiệt hại thì được coi là Nhà nước gây thiệt hại và đương nhiên Nhà nước có trách nhiệm bồi thường”[46],tr. Quan điểm thứ sáu cho rằng “TNBTCNN là dạng trách nhiệm dân sự của Nhà nước mà trách nhiệm này không thể phát sinh nếu không có sự đồng ý, chấp nhận của chính Nhà nước hay nói cách khác, về nguyên tắc, Nhà nước không thể bị kiện bởi các cá nhân, tổ chức”[65],tr.