Chương 1 NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐINH ̣ GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SƢ̣ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC DÂN SƢ̣ 1. Khái niệm việc dân sự Ở Việt Nam trước năm 2004, theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động không có khái niệm việc dân sự mà tất cả các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình (HN&GĐ), kinh doanh thương mại và lao động đều được gọi là vụ án. Mỗi loại vụ án, bao gồm cả những việc có tranh chấp và những việc không có tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết chung theo một thủ tục.
Việc quy định như vậy đã không đáp ứng được yêu cầu giải quyết các vụ việc tại Tòa án nhân dân và đòi hỏi của đời sống xã hội. Tất cả các vụ việc dù có tranh chấp hay không có tranh chấp, đơn giản hay phức tạp đều được giải quyết theo một thủ tục, trình tự dẫn đến không giải quyết kịp thời vụ việc, không bảo đảm được quyền và lợi ích của các chủ thể, gây lãng phí cả về thời gian, công sức và tiền bạc của công dân và Nhà nước. Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, các tranh chấp trong quan hệ dân sự không ngừng phát sinh đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự để bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu tại Tòa án nhân dân. Để cụ hóa các nội dung chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp ở Việt Nam và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, ngày 15/6/2004 tại kỳ họp thứ V, Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTDS của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lần đầu tiên khái niệm việc dân sự được quy định tại Điều 311 BLTTDS, theo đó: Viê ̣c dân sự là viê ̣c cá nhân , tổ chức không có tranh chấ p , nhưng có yêu cầ u Toà án công nhâ ̣n hoă ̣c không công nhâ ̣n mô ̣t sự kiê ̣n pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyề n, nghĩa vụ dân sự , hôn nhân và gia đin ̀ h , kinh doanh, thương ma ̣i, lao đô ̣ng của miǹ h hoă ̣c của cá nhân , cơ quan, tổ chức khác ; yêu cầ u Toà án công nhâ ̣n cho mình quyền về dân sự , hôn nhân và gia đình , kinh doanh, thương mại, lao đô ̣ng [22]. Như vậy, viê ̣c dân sự được hiểu là viê ̣c mà cá nhân , tổ chức không có tranh chấ p về quyề n và lơ ̣i ích hơ ̣p pháp giữa các bên do các bên đã thoả thuâ ̣n đươ ̣c với nhau , tuy nhiên , để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình các bên yêu cầu Toà án công nhận giá trị pháp lý của sự thoả thuận đó. Hoă ̣c trường hơ ̣p chỉ có mô ̣t bên khi có mô ̣t sự kiê ̣n pháp lý nào đó làm phát sinh quyề n và nghiã vu ̣ dân sự hoă ̣c quyề n về dân sự yêu cầ u Toà án xác nhận sự kiê ̣n pháp lý đó ; công nhâ ̣n hoă ̣c không công nhâ ̣n quyề n , nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh, thương ma ̣i và lao đô ̣ng. Khác với vụ án dân sự , việc dân sự là loại việc mà giữa các chủ thể với nhau không có tranh chấ p về quyề n và lơ ̣i ích , vụ án dân sự được phát sinh do có tranh chấp về quyền lợi , nghĩa vụ giữa các bên (nguyên đơn và bị đơn ) mà tự họ không thể giải quyết đươ ̣c nên mô ̣t trong các bên đã khởi kiê ̣n yêu cầ u Toà án giải quyế t.
Viê ̣c dân sự đươ ̣c phát sinh chỉ do mô ̣t tuyế n chủ thể , mà khi có một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ làm phát sinh quyề n, nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh - thương ma ̣i, lao đô ̣ng của mình hoă ̣c của người khác liên quan đế n quyề n lơ ̣i của mình hoặc của cơ quan , tổ chức khác ; hoă ̣c phát sinh quyề n về dân sự , HN&GĐ, kinh doanh - thương ma ̣i , lao đô ̣ng thì chính chủ thể này yêu cầ u Toà án xem xét để công nhận hay không công nhận các sự kiện pháp lý và các quyề n đó cho ho .̣ Hiện nay, về cơ bản thì nội hàm của khái niệm việc dân sự 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng đã và đang được nhiều nước quy định. Ví dụ: BLTTDS của Pháp quy đinh ̣ về thủ tục giải quyết việc dân sự : "Thẩ m phán quyế t đinh ̣ giải quyế t các viê ̣c dân sự theo qu y đinh ̣ của pháp luâ ̣t khi có yêu cầ u trong trường hơ ̣p không có tranh chấ p ; căn cứ vào tiń h chấ t của vu ̣ viê ̣c hoă ̣c tư cách của người yêu cầ u mà vu ̣ viê ̣c thuô ̣c quyề n quyế t đinh ̣ của Thẩ m phán " [16]. Tương tự, BLTTDS của Liên bang Nga cũng quy định về thủ tục đặc biệt để giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp không có tranh chấp: 3. Trong trường hợp khi thụ lý đơn hoặc khi giải quyết vụ việc theo thủ tục đặc biệt mà thấy rằng tranh chấp phải được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án, thì Tòa án ra quyết định không xem xét đơn yêu cầu, trong đó có giải thích cho người gửi đơn và những người khác liên quan quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án [35].
Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mặc dù không quy định tên gọi là việc dân sự nhưng quy định về trình tự đặc biệt đối với những loại việc không có tranh chấp: Tòa án nhân dân áp dụng những quy định của chương này xử lý những vụ án: vụ án về tư cách cử tri những vụ án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố tử vong, những vụ án về nhận định công dân không có năng lực hành vi dân sự hoặc năng lực hành vi dân sự hạn chế và những vụ án về tài sản vô chủ… Trong quá trình xét xử những vụ án theo trình tự của chương này, trường hợp phát hiện vụ án thuộc về tranh chấp quyền lợi dân sự thì nên quyết định kết thúc trình tự đặc biệt và báo cho những người có quan hệ về lợi ích biết để có thể khởi tố theo thủ tục khác [36]. Như vậy, qua phân tích và nghiên cứu tìm hiểu các quy định về việc dân sự tại một số nước như trên nhận thấy có sự tương đồng về khái niệm 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc dân sự giữa pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam với pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới đều là loại việc có bản chất là không có tranh chấp. Đặc điểm của việc dân sự Bản chất việc dân sự là việc không có tranh chấp. Trong các vụ việc dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, HN&GĐ, kinh doanh, thương mại và lao động; yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh thương mại và lao động.
Từ các vụ việc cụ thể mà các bên hoặc đã tự thỏa thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như quyền và lợi ích và cùng yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó (các yêu cầu về HN&GĐ như công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản; thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật…) hoặc chỉ có một bên yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý như yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân; công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương mại và lao động; yêu cầu Tòa án hỗ trợ cho việc bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình Trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp… Qua đó cho thấy, việc dân sự có các đặc điểm sau: Thứ nhất, không có nguyên đơn và bị đơn trong việc dân sự mà chỉ có người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự. Nguyên đơn là người đứng đơn khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật tố tụng đứng đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại và bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện theo quy định của pháp luật khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Do đó, nguyên đơn và bị đơn là chủ thể của trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ.