Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) được xác định là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội quốc gia. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 186 Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, việc tham gia BHXH là nghĩa vụ bắt buộc đối với người sử dụng lao động và người lao động. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm diễn biến phức tạp với nhiều hành vi như trốn đóng, nợ đọng kéo dài, gian lận và trục lợi quỹ bảo hiểm. Việc xử lý trước đây bằng các biện pháp dân sự hoặc tội danh xâm phạm sở hữu chưa phản ánh đúng tính chất đặc thù của các hành vi vi phạm chính sách an sinh xã hội, đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện và áp dụng nghiêm ngặt các quy định pháp luật hình sự, hành chính theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Tỉnh Bắc Ninh là địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các thành phần kinh tế. Bên cạnh những đơn vị chấp hành tốt, nhiều doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoạt động kém hiệu quả hoặc cố tình trốn đóng, nợ đọng tiền BHXH với số tiền lớn và thời gian kéo dài, xâm phạm quyền lợi của người lao động. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan BHXH tại địa phương vẫn còn bộc lộ những hạn chế, vướng mắc. Trước thực tế đó, khóa luận tốt nghiệp "Handling of violations in the field of social insurance in Bac Ninh province - Current situation and solutions" (Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp) được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá cơ sở lý luận và thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về BHXH tại Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng, từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như xử lý vi phạm. Đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội;
  2. Phân tích đặc điểm, thực trạng vi phạm và công tác xử lý vi phạm pháp luật BHXH tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2018–2020, chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân;
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả xử lý các vi phạm trọng điểm trong lĩnh vực BHXH tại tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội và các hoạt động xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu hoạt động xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội dựa trên thực tiễn xử phạt, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và khởi tố vụ án tại tỉnh Bắc Ninh năm 2020 và các vụ việc điển hình trong giai đoạn 2018–2020.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật, quản lý nhà nước và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật.

Khung pháp lý được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 34 về quyền an sinh xã hội của công dân);
  • Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • Bộ luật Lao động (năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực từ 01/01/2021 sửa đổi Điều 54, 55 Luật BHXH);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (bổ sung các tội danh tại Điều 214 về Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và Điều 216 về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động);
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
  • Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
  • Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214, Điều 215, Điều 216 của Bộ luật Hình sự;
  • Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Tác giả kết hợp các công trình nghiên cứu tổng quan trong nước và quốc tế, bao gồm luận văn của Trần Thị Thu Trang (2013), Nguyễn Hữu Thanh (2018), Hồ Khải Nhân (2019), công trình nghiên cứu của Nguyễn Chí Công (2019), bài viết của Hà Mỹ (2020) và nghiên cứu gian lận bảo hiểm tại Ấn Độ của Pooja Choudhary (2014).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các khía cạnh pháp lý, phân chia các chế độ bảo hiểm và nhóm hành vi vi phạm, sau đó tổng hợp, đánh giá toàn diện bức tranh thực thi pháp luật.
  • Phương pháp nghiên cứu pháp luật và phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu kinh tế, phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội dựa trên các tiêu chí khoa học.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng vi phạm với đặc điểm kinh tế - xã hội, tổng hợp số liệu thanh tra chuyên ngành, số liệu xử phạt vi phạm hành chính và các vụ án khởi tố. Nguồn dữ liệu sử dụng là số liệu thứ cấp từ Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh, Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2018–2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Chương I hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, vai trò, chế độ BHXH bắt buộc và các quy định pháp luật về hành vi vi phạm, chế tài xử lý.

  • Khái niệm và vai trò của BHXH: Tác giả đối chiếu khái niệm BHXH từ Từ điển Bách khoa Việt Nam (2007), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2013), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, và Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Khóa luận phân tích 2 loại hình: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
  • Các chế độ BHXH bắt buộc: Phân tích chi tiết điều kiện, mức hưởng và thời gian hưởng của 5 chế độ chính theo Luật BHXH 2014:
    1. Chế độ ốm đau: Mức hưởng bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc; điều trị bệnh dài ngày hưởng từ 50% đến 65% tùy thời gian đóng; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau hưởng 30% mức lương cơ sở/ngày (từ 5 đến 10 ngày).
    2. Chế độ thai sản: Lao động nữ sinh con đóng đủ từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh; mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 6 tháng trước khi nghỉ việc; trợ cấp một lần khi sinh con bằng 2 lần mức lương cơ sở cho mỗi con.
    3. Chế độ hưu trí và BHXH một lần: Quy định tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng tối đa 75%, cách tính trợ cấp một lần khi nghỉ hưu và các trường hợp được rút BHXH một lần theo Luật BHXH và Bộ luật Lao động sửa đổi.
    4. Chế độ tử tuất: Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở; trợ cấp tuất hàng tháng bằng 50% mức lương cơ sở cho mỗi thân nhân (hoặc 70% nếu không có người trực tiếp nuôi dưỡng, tối đa không quá 4 thân nhân); trợ cấp tuất một lần tính theo số năm đóng BHXH.
    5. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên; mức hưởng trợ cấp một lần (suy giảm 5%–30%) hoặc trợ cấp hàng tháng (suy giảm từ 31% trở lên), trợ cấp phục vụ bằng mức lương cơ sở khi suy giảm từ 81% trở lên kèm liệt/mù/tâm thần; trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động bằng 36 lần mức lương cơ sở.
  • Nhóm hành vi vi phạm và phân định trách nhiệm pháp lý:
    • Nhóm vi phạm nghĩa vụ đóng: Trốn đóng; chậm đóng; đóng không đủ số người thuộc diện bắt buộc; đóng không đúng mức tiền lương/thu nhập thực tế (khai thấp hơn để giảm chi phí hoặc khai cao bất thường để trục lợi).
    • Nhóm vi phạm quyền hưởng chế độ: Gian lận hồ sơ, làm giả giấy tờ mang tính cá nhân hoặc có tổ chức để chiếm đoạt tiền quỹ BHXH.
    • Tiêu chí phân định vi phạm hành chính và tội phạm: Dựa trên 3 điểm khác biệt chính: mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; tính chất nghiêm khắc của hậu quả pháp lý (hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, án tích so với biện pháp cưỡng chế hành chính); hình thức văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận (Bộ luật Hình sự so với các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính).
  • Yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi: Các khoảng trống pháp lý (như BHXH chưa có đầy đủ thẩm quyền thanh tra toàn diện việc thực hiện chế độ, vướng mắc khởi kiện nợ BHXH ra Tòa án), ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động và chất lượng công tác truyền thông chính sách.

Chương II: Thực tiễn xử lý vi phạm và giải quyết các vụ việc về bảo hiểm xã hội tại tỉnh Bắc Ninh

Chương II tập trung phản ánh bối cảnh địa phương, cơ cấu tổ chức cơ quan BHXH và thực trạng xử lý các hành vi vi phạm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2018–2020.

  • Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh: Diện tích tự nhiên 823 km², gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố Bắc Ninh, 01 thị xã Từ Sơn và 06 huyện: Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Du, Yên Phong) với 126 xã, phường, thị trấn. Dân số năm 2019 đạt 1.378.592 người; quy mô GRDP đạt 199.673 tỷ đồng (tương đương 8,681 tỷ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 144,838 triệu đồng (6.220 USD/người, đứng thứ 2 cả nước). Tỉnh thu hút 1.470 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt trên 18 tỷ USD, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,27%.

  • Tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Bắc Ninh: Thành lập theo Quyết định số 1613/BHXH-QĐ-TCCB ngày 16/9/1997 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, cơ cấu gồm Ban Giám đốc (Giám đốc và các Phó Giám đốc), 10 phòng nghiệp vụ tại tỉnh và 07 cơ quan BHXH cấp huyện/thị xã.

  • Thực trạng vi phạm và công tác xử lý tại Bắc Ninh:

    • Tình hình nợ đọng, chậm đóng, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN diễn ra phức tạp, đặc biệt tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp cổ phần hóa làm ăn kém hiệu quả.
    • Công tác thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, kiểm tra liên ngành và tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được đẩy mạnh (tổng hợp qua Bảng 2.4, Bảng 2.7, Bảng 2.8).
    • Khóa luận đi sâu phân tích các hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính điển hình về hành vi chậm đóng và đóng không đủ số lao động bắt buộc:
      • Vụ xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Unified;
      • Vụ xử phạt vi phạm hành chính về chậm đóng tiền BHXH, BHTN đối với Công ty TNHH Phong Thịnh;
      • Vụ xử phạt vi phạm hành chính chậm đóng tiền BHXH đối với Công ty Cổ phần Xây lắp Cơ khí và Điện lực.
    • Thực tiễn hồ sơ kiến nghị khởi tố hình sự theo Bộ luật Hình sự:
      • Hồ sơ khởi tố đối với Công ty Cổ phần HiTech TD – Chi nhánh Bắc Ninh (Table 2.5);
      • Hồ sơ khởi tố đối với Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Phi Kha Miền Bắc (Table 2.6).
  • Đánh giá chung: Công tác xử lý vi phạm đã góp phần thu hồi nợ đọng và răn đe vi phạm. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các rào cản về cơ chế phối hợp liên ngành, quy trình xử lý tố giác tội phạm trốn đóng BHXH theo Điều 216 còn nhiều vướng mắc về thủ tục chứng minh yếu tố "cố tình trốn đóng", "đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm".

Chương III: Kiến nghị và giải pháp

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý vi phạm pháp luật BHXH tại tỉnh Bắc Ninh:

  • Đối với BHXH tỉnh Bắc Ninh:
    • Tăng cường chất lượng hoạt động thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, kiểm tra đột xuất các đơn vị có dấu hiệu nợ đọng kéo dài, nợ lớn;
    • Hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản lý thu, phối hợp rà soát chặt chẽ giữa dữ liệu đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và dữ liệu tham gia BHXH;
    • Nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, thanh tra, kiểm tra.
  • Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam:
    • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định mở rộng quyền thanh tra toàn diện (thanh tra cả việc chi trả và hưởng chế độ BHXH chứ không chỉ giới hạn ở thanh tra chuyên ngành đóng);
    • Đổi mới, đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách theo hướng linh hoạt, dễ hiểu, tận dụng nền tảng số và mạng xã hội.
  • Đối với Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh:
    • Tăng cường chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh, Liên đoàn Lao động) phối hợp chặt chẽ với cơ quan BHXH trong công tác thanh tra liên ngành;
    • Đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia và giảm tỷ lệ nợ đọng BHXH vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội định kỳ của địa phương.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan liên quan:
    • Tháo gỡ các điểm nghẽn trong công tác tiếp nhận, điều tra, truy tố và xét xử các hành vi vi phạm theo Điều 214 và Điều 216 Bộ luật Hình sự theo hướng dẫn của Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP.

Kết quả và đóng góp

Nội dung Chi tiết ghi nhận trong khóa luận
Cơ sở dữ liệu thực tiễn Phân tích toàn diện số liệu về các đơn vị hành chính (8 đơn vị gồm 1 TP, 1 thị xã, 6 huyện với 126 xã/phường/thị trấn), quy mô kinh tế GRDP (199.673 tỷ đồng), thu hút 1.470 dự án FDI (vốn >18 tỷ USD) tác động trực tiếp đến lực lượng lao động và công tác thu nợ BHXH tại Bắc Ninh.
Phân tích ca bệnh thực tế (Case study) Hệ thống hóa và phân tích cụ thể 3 hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính (Công ty Unified, Công ty TNHH Phong Thịnh, Công ty CP Xây lắp Cơ khí và Điện lực) và 2 vụ việc kiến nghị khởi tố hình sự (Công ty CP HiTech TD - CN Bắc Ninh, Công ty TNHH SX&TM Phi Kha Miền Bắc).
Hệ thống hóa lý luận và chế tài Làm rõ cơ sở khoa học để phân định giữa vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội theo Bộ luật Hình sự 2015 (Điều 214, 216) và Luật BHXH 2014.
Đề xuất giải pháp liên ngành Thiết lập các nhóm giải pháp từ cơ sở địa phương (BHXH tỉnh Bắc Ninh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh) đến cấp trung ương (BHXH Việt Nam, cơ quan tư pháp).

Khóa luận đóng góp nguồn tư liệu thực tiễn cụ thể về công tác thanh tra, xử lý vi phạm hành chính và quy trình xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH tại một tỉnh có mức độ công nghiệp hóa và thu hút FDI cao như Bắc Ninh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế:
    • Phạm vi dữ liệu thực tiễn của đề tài tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2018–2020 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
    • Các vụ việc khởi tố theo Điều 214 và Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn nghiên cứu vẫn là những bước áp dụng thực tiễn đầu tiên sau khi Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP được ban hành, do đó số lượng bản án xét xử hoàn tất được phân tích còn hạn chế so với tổng số vụ việc có dấu hiệu vi phạm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng đánh giá tác động dài hạn của các vụ án hình sự về trốn đóng BHXH sau khi có thêm án lệ và bản án có hiệu lực pháp luật.
    • Nghiên cứu so sánh thực tiễn xử lý vi phạm BHXH tại các tỉnh, thành phố công nghiệp trọng điểm khác trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Tài chính - Ngân hàng, Luật Kinh tế, Quản lý công: Tham khảo về cấu trúc đề tài xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm, phương pháp hệ thống hóa các chế độ BHXH bắt buộc và cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp (case study).
  • Cán bộ quản lý và thực thi chính sách BHXH: Cung cấp tư liệu thực tế về các hành vi vi phạm phổ biến (trốn đóng, đóng thiếu số người, khai man mức lương) và các khó khăn thực tế trong quá trình chuyển giao hồ sơ xử phạt hành chính sang cơ quan điều tra đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu việc xử lý vi phạm pháp luật BHXH trên địa bàn nào và trong khoảng thời gian nào?
Khóa luận nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh, tập trung vào tình hình xử phạt năm 2020 và các vụ việc vi phạm điển hình trong giai đoạn 2018–2020.

2. Căn cứ pháp lý hình sự nào được khóa luận sử dụng để phân tích tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội?
Khóa luận căn cứ vào Điều 214 (Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp) và Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động) của Bộ luật Hình sự năm 2015, cùng Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

3. Khóa luận phân tích những vụ việc xử phạt hành chính và khởi tố cụ thể nào tại Bắc Ninh?
Khóa luận phân tích các vụ xử phạt hành chính của Công ty Unified, Công ty TNHH Phong Thịnh, Công ty CP Xây lắp Cơ khí và Điện lực; cùng các vụ việc kiến nghị khởi tố của Công ty CP HiTech TD (Chi nhánh Bắc Ninh) và Công ty TNHH SX&TM Phi Kha Miền Bắc.

4. Khóa luận chỉ ra các nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH phổ biến nào của người sử dụng lao động?
Các hành vi gồm: trốn đóng BHXH cho toàn bộ lao động; đóng không đủ số lượng lao động thuộc diện bắt buộc; chậm đóng/nợ đọng kéo dài dù đã trích trừ lương của người lao động; và đóng không đúng mức lương thực tế (khai thấp hơn hoặc bất thường).

5. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh được nêu trong văn bản gồm những bộ phận nào?
Cơ cấu gồm Ban Giám đốc, 10 phòng nghiệp vụ tại cơ quan tỉnh và 07 cơ quan BHXH cấp huyện, thị xã trực thuộc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Hang đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, cũng như khung pháp lý xử lý vi phạm hành chính và hình sự liên quan. Bằng việc phân tích sâu thực tiễn giai đoạn 2018–2020 tại tỉnh Bắc Ninh thông qua các số liệu thống kê và hồ sơ vụ việc cụ thể, công trình đã phản ánh rõ nét những mặt đạt được cũng như các vướng mắc trong quản lý thu và xử lý nợ đọng BHXH. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có tính đồng bộ, gắn liền với chức năng của cơ quan BHXH địa phương, chính quyền tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan tư pháp.