CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò thực hiện pháp luật về quốc phòng 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về quốc phòng Trước khi khái niệm thực hiện pháp luật về quốc phòng chúng ta nghiên cứu khái niệm về quốc phòng, thực hiện pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật liên quan khác. Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt [khoản 1, điều 2 Luật quốc phòng năm 2018].
Nhìn chung là công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học… của Nhà nước để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện trong đó sức mạnh quân sự là nòng cốt để giữ vững hoà bình, đẩy lùi và ngăn chặn các hoạt động chống đối của kẻ thù, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới bất cứ hình thức và quy mô nào. Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học luật Hà Nội, "Thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [24, tr 494]. Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [19, tr 270]. 8 luan an Các hình thức thực hiện pháp luật: Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật không thực hiện các hành vi xử sự mà pháp luật cấm.
Ví dụ: Pháp luật cấm vượt đèn đỏ là không vượt là tuân thủ pháp luật. Thi hành pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật chủ động thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Ví dụ: Pháp luật quy định đến tuổi phải thực hiện nghĩa vụ quân sự là đi nghĩa vụ là thi hành pháp luật. Sử dụng pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các quyền của mình do pháp luật quy định.
Ví dụ: Pháp luật quy định công dân có quyền kết hôn là đi đăng ký kết hôn là sử dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là việc các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Ví dụ: Công dân đến UBND để đăng ký kết hôn là cán bộ UBND xem xét cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn là áp dụng pháp luật. [Trang thông tin điện tử https://lawnet.vn/ (2017), Bốn hình thức thực hiện pháp luật mà tất cả mọi người cần phải biết, cập nhật ngày 10/7/2017] Từ những phân tích trên, có thể xác định khái niệm: Thực hiện pháp luật về quốc phòng là hoạt động có mục đích, có tổ chức của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị quân đội nhằm quy phạm của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các cán bộ, chiến sĩ trong QĐNDVN và cán bộ, công chức và nhân dân [Nguyễn Minh Trạng, Đặng Trường Xuân, Mai Văn Thương, Huỳnh Duy Lâm, Cao Sỹ Thiên, Lê Phụng (2017), Nhóm 9 Lớp YK16B Khoa Y dược Đại học Đà Nẵng, Bài thuyết trình pháp luật đại cương, Trang www.net, cập nhật ngày 24/10/2017].
Từ những nghiên cứu, phân tích trên cho thấy, thực hiện pháp luật là việc chấp hành, triển khai thực hiện với quá trình hoạt động cụ thể trong cuộc sống và 9 luan an xác định có mục đích, mọi người đều phải chấp hành. Chính vì vậy, thực hiện pháp luật về quốc phòng nói riêng cũng là hoạt động có mục đích, được thực hiện bởi các chủ thể nhất định và thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc phòng. Đặc điểm thực hiện pháp luật về quốc phòng Thứ nhất, chủ thể của thực hiện pháp luật về quốc phòng là một bên luôn là các cơ quan, cá nhân trong các cơ quan hành chính nhà nước đại diện cho nhà nước tổ chức, thực hiện pháp luật về quốc phòng luật định [Quốc hội 2018), Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Luật quốc phòng năm 2018]. Theo đó, chủ thể thực hiện pháp luật về quốc phòng trong các cơ quan hành chính Nhà nước bao gồm những cơ quan sau: Chính phủ; Bộ quốc phòng; Các bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND các cấp, UBND các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
UBND cấp huyện chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; xây dựng thực lực, tiềm lực quốc phòng; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa phương; thực hiện pháp luật quốc phòng và an ninh. Hội đồng nhân dân cùng cấp dự toán ngân sách bảo đảm cho hoạt động quốc phòng; chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về bảo đảm ngân sách cho hoạt động quốc phòng ở địa phương. Thứ hai, đối tượng của thực hiện pháp luật về quốc phòng là tất cả cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, quốc phòng, dân quân tự vệ, dự bị động viên và mọi tầng lớp nhân dân ở các địa phương. Các đối tượng tiếp cận, tìm hiểu, tìm đọc pháp luật và chấp hành nghiêm việc thực pháp luật về quốc phòng.
Nêu cao tinh thần yêu nước, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Thứ ba, nội dung của thực hiện pháp luật là xây dựng kế hoạch hoàn thiện pháp luật, nghiên cứu soạn thảo các tài liệu pháp luật về quốc phòng có nội dung phù hợp với từng địa phương, xây dựng tủ sách pháp luật, hoạt động sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật, hoạt động trợ giúp pháp lý; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất 10 luan an lượng đội ngũ cán bộ công chức trong việc thực hiện pháp luật về quốc phòng; Kiểm tra, giám sát thực hiện hiện pháp luật về quốc phòng. Các cấp chính quyền địa phương tăng cường công tác vận động, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về quốc phòng, an ninh, dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở các địa phương. Ngoài ra còn một số đặc điểm chung về quốc phòng như sau Một là, theo Điều 64, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.
Do đó nền quốc phòng là sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của toàn lực lượng vũ trang và cả hệ thống trị trên tất cả các lĩnh vực để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hai là, quốc phòng xuất phát từ truyền thống dân tộc được tạo nên bởi các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, tâm lý khoa học, tinh thần yêu nước… của cả dân tộc trải qua nhiều giai đoạn lịch sử được gìn giữ và bảo vệ. Để xây dựng và phát triển đất nước, ổn định kinh tế xã hội thì nhiệm vụ cần thiết là phải xây dựng nền quốc phòng vững chắc, xác định chiến lược quân sự và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc qua mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước. Ba là, trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới và phát triển kinh tế kết hợp xây dựng quốc phòng, an ninh vững mạnh toàn diện, hiện đại, tinh nhuệ đáp ứng được nhiệm vụ trong các hoạt động ngoại giao, chính trị, văn hóa, xã hội.
tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Việc xây dựng quốc phòng toàn diện và mang tính hiện đại phải luôn đi đôi với nhau, thực tiễn lịch sử cách mạng qua từng giai đoạn, quân và dân ta đã chiến thắng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Khẳng định được ý chí quật cường của cả dân tộc, sẵn sàng chiến đấu với lực lượng thù địch hùng hậu, vũ khí tối tân, hiện đại. nhưng nhờ sức mạnh quốc phòng, đoàn kết của toàn dân đã đánh bại mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù.
Phát triển kinh tế xã hội đồng hành với việc phát triển khoa học, vận dụng những thành tựu khoa học công nghệ để xây dựng đất nước giàu mạnh, kế thừa, 11 luan an sáng tạo những kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao trong xây dựng lực lượng vũ trang, quân sự bền vững, góp phần từng bước hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế xã hội toàn diện ở các địa phương. Vai trò của thực hiện pháp luật về quốc phòng Thực hiện pháp luật về quốc phòng với mục đích nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ và mọi tầng lớp nhân dân. Trong những năm qua, việc thường xuyên nghiên cứu các văn bản pháp luật về quốc phòng và thực hiện pháp luật về quốc phòng của cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị quân đội và các cấp chính quyền địa phương đã đạt được nhiều kết quả, góp phần làm giảm đáng kể số vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng, các vi phạm kỷ luật trong toàn quân, toàn dân. Trong sự tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân trong xã hội chịu sự ràng buộc của những quy tắc xử sự khác nhau do đạo đức, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, pháp luật… tham gia quản lý.
Tuy nhiên, pháp luật là công cụ không thể thiếu, quan trọng, hiệu quả nhất đối với việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở nhiều lĩnh vực khác nhau, như: tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa, dân cư, biên giới quốc phòng… Trong quá trình kiến thiết đất nước, tiến lên xã hội chủ nghĩa, xây dựng một cộng đồng gắn kết chặt chẽ vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; việc đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội cũng là một vấn đề đáng được lưu tâm. Do vậy, việc nghiên cứu vai trò của thực hiện pháp luật về quốc phòng là rất cần thiết trên con đường đổi mới, hội nhập của nước ta hiện nay.