Đề tài khoa học cấp bộ đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn phần 2

Tổng hợp kiến thức Phát triển bền vững trong xây dựng pháp luật: Lý luận và thực tiễn (Phần 2), tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Chính Sách, Pháp Luật Và Phát Triển

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo Cáo Nghiên Cứu

2008

314
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

1. PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1. Khái niệm pháp luật về LD-VL

2. CÁC CHUYÊN ĐỀ VỀ ĐẢM BẢO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển bền vững trong xây dựng pháp luật

Phát triển bền vững (phát triển bền vững) trong xây dựng pháp luật không chỉ là một khái niệm lý thuyết mà còn là một yêu cầu thực tiễn cấp bách. Lý luận pháp luật cần được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, trong đó việc xây dựng pháp luật (xây dựng pháp luật) cần chú trọng đến các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Đặc biệt, các chính sách phát triển (chính sách phát triển) cần được thiết kế để đảm bảo rằng mọi hoạt động phát triển đều không làm tổn hại đến môi trường và sự công bằng xã hội. Nghị quyết 41/NQ/TU khẳng định rằng việc áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường (bảo vệ môi trường) là một trong những giải pháp chính để đạt được mục tiêu này.

1.1. Lý luận pháp luật về phát triển bền vững

Lý luận pháp luật về phát triển bền vững yêu cầu các nhà làm luật phải có cái nhìn tổng thể về các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và xã hội. Điều này bao gồm việc xem xét tác động của các luật thuế như Luật thuế xuất nhập khẩu và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với môi trường. Việc này không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà cần có sự tham gia của các cơ quan liên quan để đảm bảo rằng các quy định pháp luật không chỉ mang tính hình thức mà còn có hiệu quả thực tiễn. Các quy định pháp luật cần phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững, trong đó bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội được xem là hai mặt không thể tách rời.

II. Thực tiễn xây dựng pháp luật trong bối cảnh phát triển bền vững

Trong thực tiễn, việc xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững. Các văn bản pháp luật hiện hành còn tồn tại nhiều mâu thuẫn và chưa phù hợp với thực tiễn. Ví dụ, trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có nhiều quy định chưa rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng gặp khó khăn. Điều này cho thấy cần có sự cải cách mạnh mẽ trong cách thức xây dựng và thực thi pháp luật. Việc lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng pháp luật cần được thực hiện một cách nghiêm túc hơn để đảm bảo rằng các quy định pháp luật thực sự phản ánh được nhu cầu và ý kiến của cộng đồng.

2.1. Các vấn đề trong quá trình xây dựng pháp luật

Một trong những vấn đề lớn trong quá trình xây dựng pháp luật là sự thiếu sót trong việc lấy ý kiến từ các tổ chức bảo vệ môi trường và các bên liên quan. Các hoạt động lấy ý kiến thường mang tính hình thức và không đạt được mục tiêu đề ra. Thời gian lấy ý kiến thường quá ngắn, khiến cho các tổ chức khó có thể tham gia một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến việc các quy định pháp luật không thể hiện được sự đồng thuận trong xã hội, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường.

III. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong bối cảnh phát triển bền vững, cần phải thực hiện một số giải pháp quan trọng. Thứ nhất, cần tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật. Thứ hai, các cơ quan nhà nước cần thực hiện nghiêm túc việc lấy ý kiến của cộng đồng và các tổ chức liên quan. Thứ ba, cần có cơ chế phản biện độc lập để đảm bảo rằng các quy định pháp luật được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật để đảm bảo rằng các quy định pháp luật thực sự mang lại lợi ích cho xã hội và môi trường.

3.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng pháp luật là cực kỳ quan trọng. Cần phải có các phương thức lấy ý kiến đa dạng, bao gồm cả việc tổ chức hội thảo, tọa đàm và sử dụng các nền tảng trực tuyến để thu thập ý kiến từ người dân. Điều này không chỉ giúp cho các quy định pháp luật phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn mà còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

không thuộc lĩnh vực MT (không phải là VB điều chỉnh trực tiếp) nhưng có thể có những tác động gián tiếp lớn tới MT, chẳng hạn các luật thuế như Luật thuế xuất nhập khẩu, Luật thuế thu nhập DN. Nghị quyết 41/NQ/TU đã khẳng định, một trong những giải pháp chính là áp dụng các biện pháp KT trong BVMT. Như vậy, chính sách thuế bao gồm cả thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập DN. cần nhìn nhận cả dưới giác độ MT.

Không chỉ những luật thuế trong lĩnh vực MT (như Luật thuế BVMT), với CS thuế khác nhau thì tác động tới MT có thể khác nhau. Do đó, sự tham gia vào quá trình thâm tra của UBKHCN&MT hoặc các thành viên của UBKHCN&MT là cần thiết. Tuy nhiên, UBKHCN&MT không tham gia vào quá trình thẩm tra các dự án luật này. Tham tra là hoạt động mang tính phản biện và cần thiết, nhất là đối với những chính sách mà CP đệ trình trong dự án, dự thảo.

Tuy nhiên, số lượng ĐBQH kiêm nhiệm chiếm đa số và không ít đại biểu trong các UB, HĐDT lại đang là cán bộ, công chức cua CQ trình dự án luật, pháp lệnh. Do đó, các đại biểu này ít khi có những ý kiến trái chiều mang tinh phản biện ?. - Sau quá trình thẩm tra, UBTVQH xem xét, cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh và sau khi chỉnh ly, bổ sung trình QH thảo luận, thông qua. Trên thực tế, các luật được xem xét, thảo luận tại hai kỳ họp QH.

Tuy nhiên, do thời gian họp QH ngắn nên các ĐBQH không được nghe giải trình, phản biện đầy đủ, nhiều chiều cũng như thời gian không đủ dé thảo luận sâu các van dé của dự thảo luật nên các ý kiến liên quan đến dự thảo luật chưa thực sự thực chất, trên cơ sở tranh luận thắng thắn để đạt đến sự thoả hiệp trong việc cân bằng các nhóm lợi ích trong XH mà chỉ mang vốn của ngành, của địa phương mình "xài" được chừng nào thì "xài", kể cả DB chuyên trách”. Hoạt động lẫy ý kiến nhân dân Hoạt động lấy ý kiến CQ, tổ chức và người dân về dự án luật, pháp lệnh được quy định trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 đã có những bước tiến mới trong vấn để này (Điều 35, Điều 33 khoản 6). Việc lấy ý kiến các CQ, tô chức có liên quan đến dự án luật, pháp lệnh là một khâu rất quan trọng nhằm bảo đảm cho dự án luật, pháp lệnh phù hợp hơn với cuộc sống. Tuy 213 Báo cáo nghiên cứu Đánh giá quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật và phất triển, Nxb.

Lao động — xã hội, Hà nội 2008. 214 phát biểu của Đại biểu quốc hội Nguyễn Văn Son (Lạng sơn), tại phiên họp Quốc hội sáng 23/10/2008 300 nhiên, hoạt động lấy ý kiến thường không đạt được mục đích này. Có nhiều nguyên nhân dén đến tình trạng này, trong đó nguyên nhân chủ yếu là thời gian lây ý kiến các tổ chức liên quan chỉ mang tính đại diện (ví dụ thông qua Hội bảo vệ thiên nhiên MT, VCCI) nhưng với thời gian yêu cầu cho ý kiến ngắn, tài liệu gửi kèm để lấy ý kiến chỉ dừng lại ở VB dự thảo và có thể là một giải trình ngắn về dự án luật, pháp lệnh. Do đó, các CQ, tổ chức có liên quan khó có thể có điều kiện (về thời gian đũng như chính sách chủ yếu, ý đồ mà dự án dé cập) dé xem xét, đánh giá cân trọng các van dé có liên quan đến VB dự thảo.

Hoạt động lấy ý kiến Hội bảo vệ thiên nhiên MT Việt Nam khi ST Luật BVMT, Luật đa dạng sinh hoc đã chứng minh nhận xét này” `”. Việc lấy ý kiến người dân thông qua việc đăng các dự án luật, pháp lệnh về BVMT trên mạng Internet để lấy ý kiến cũng mạng tính hình thức và chỉ đăng dự thảo luật. Cơ chế giải trình phản hồi những ý kiến đóng góp (kể cả trong trường hợp là CQ phản biện chính thức dự án luật) của các CQ, tổ chức được thực hiện một cách hình thức. CQ chủ trì ST dự án luật, pháp lệnh không có sự giải trình cụ thể về những ý kiến tiếp thu, không tiếp thu và lý do của những quyết định này đối với ý kiến đóng góp, phản biện.

Đây là tình trạng lấy ý kiến trong quá trình ST luật nói chung, Luật BVMT năm 2005 nói riêng 71° là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng của Luật BVMT năm 2005. Với quy định tại Điều 33 khoản 6, Điều 35 Luật ban hành VBQPPL năm 2008, hy vọng rằng, tình hình lấy ý kiến, giải trình về việc tiếp thu hoặc không tiếp thu các ý kiến của CQ, tổ chức về những dự án luật, pháp lệnh nói chung và các dự án luật, pháp lệnh về BVMT nói riêng được thực hiện tốt hơn ?!”, Cũng cần nhấn mạnh là, Điều 35 khoản 3 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 xác định, Bộ TN-MT có trách nhiệm góp ý kiến bằng VB về tác động tới MT của các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh. Quy định này trong bản thân Luật ban hành VBQPPL năm 2008 cũng đã thể hiện sự quan tâm của QH trong việc triển khai thực hiện các quan điểm về PTBV. ?'° Cá những giai đoạn.

Bộ Tài nguyên vả Môi trường gửi dụ thảo (Luật bảo vệ mâi trường. Luật đa dạng sinh học) va dé nghị góp ý kiến cha Hội bao vệ thiên nhiên và môi trường Việt nam với yêu câu về mặt thời ian rất hạn chế, có trường hợp chỉ trong vòng ! 5 ngày. thậm chí trong vòng 05 ngày phải có ý kiến phan hỗi. “1 Một trong những có quan phản biện chính thức Luật bảo vệ môi trường là Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường, cơ quan được lấy ý kiến là VCCI.

? Điều 33 khoản 6 Luật BHVBQPPL 2008 quy định về nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo phải chuẩn bị báo cáo giải trình. tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức và đăng tải các tải liệu này trên trang thông tin điện tu của Chính phủ hoặc cơ quan. 16 chức chủ trì soạn thảo. Thực trạng của PLMT hiện hành Các luật, pháp lệnh đã được ban hành trong thời gian qua gồm: Luật tài nguyên nước năm 1998, Luật đi sản VH năm 2001, Luật khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005), Luật thuỷ sản năm 2003, Luật đất đai năm 2003, Luật bảo vệ và PT rừng năm 2004, Luật BVMT năm 2005, BLDS năm 2005, BLHS năm 1999, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2001, Pháp lệnh VSAT thực phẩm (VSATTP) năm 2003, Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004.

Có thể đánh giá rằng, trong thời gian qua, QH, UBTVQH đã có nhiều nỗ lực nhằm XD luật, pháp lệnh về MT, BVMT và các nguồn tài nguyên nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn và mục tiêu về PTBV. Với Chương trình XD luật, pháp lệnh của QH nhiệm kỳ XII, nếu Chương trình này được thực hiện trên thực tế, thì trong thời gian tới QH đã hoàn thành nhiệm vụ chung được đề cập tại Nghị quyết 41-NQ/TƯ: Bảo vệ đa dạng sinh học thông qua việc XD, thông qua, ban hành Luật đa dạng sinh học; quan tâm BVMT biển thông qua việc XD, thông qua, ban hành Luật bảo vệ TNMT biển; áp dụng các biện pháp KT trong BVMT thông qua việc XD, thông qua, ban hành Luật thuế BVMT. Tuy nhiên, Chương trình XD luật, pháp lệnh của QH nhiệm kỳ XII chưa chú trọng BVMT không khí. Trong Chương trình này không có chủ trương XD Luật về không khí sạch, 14 một trong những đạo luật quan trọng trong hệ thống các VBQPPL về MT của các quốc gia trên thé giới.

Như vậy, trước năm 2011, chúng ta sẽ chưa có Luật (hoặc pháp lệnh) về BVMT không khi. Có thé đánh giá chất lượng của các VBQPPL về MT và BVMT như sau : - Thứ nhất, còn tôn tại nhiều mâu thuân trong các VBOPPL. Giữa các VBQPPL và ngay trong một VBQPPL cũng tồn tại những mâu thuẫn. Vi dụ: trong Điều 43 Luật BVMT, tổn tại mâu thuẫn giữa khoản | và khoản 2 của Điều này.

Trong khi Điều 43 khoản 1 mục a Luật BVMT năm 2005 đã xác định điều kiện phế liệu được phép nhập khẩu là đã được phân loại, làm sạch thì tại Điều 43 khoản 1 mục b lại cho phép phế liệu có chứa những tạp chất không nguy hại. Điều 43 khoản 1 mục b quy định: "không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xêp, vận chuyên". Như vậy, có thê hiệu rang, trước khi "bi rời ra trong quá 302 trình bốc xếp, vận chuyên" thì các tạp chất này lẫn trong phế liệu và như vậy các phế liệu nhập khẩu được phép chứa một số những tạp chất không nguy hại. Khăng định này còn được củng cô bởi quy định tại Điều 43 khoản 2 mục b về điều kiện của tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu là: "có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu".

Nếu phế liệu đáp ứng đầy đủ yéu cầu là được làm sạch thì việc pháp luật quy định bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải có năng lực xử lý tạp chất là không cần thiết. Và nếu điều này là cần thiết nhằm BVMT chung thì rõ ràng PL đã cho phép phế liệu chứa những tạp chất không nguy hại, ít nhất được hiểu là chứa một tỉ lệ nhất định những tạp chất này. Mặc dù trong quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu không khẳng định rõ sự cho phép nhập khẩu những phế liệu có lẫn những tạp chất không nguy hại nhưng với những phân tích ở trên chúng ta thấy rõ sự cho phép đó. Như vậy, các quy định nêu trên có tính chất loại trừ lẫn nhau.

Theo bất cứ cách hiểu nào thì cũng tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định này và sẽ là nguyên nhân gây ra những khó khăn trong qua trình áp dụng PL. Theo Điều 24 Luật BVMT, cơ sở SX, KD, dịch vụ quy mô hộ gia đình và đối tượng không thuộc quy định tại Điều 14 và Điều 18 của Luật này phải có bản cam kết BVMT. Như vậy, những chiến lược, chính sách, kế hoạch không thuộc Điều 14 ví dụ như các Quy hoạch SDĐ của UBND cấp huyện phải thực hiện lập bản cam kết BVMT và trong trường hợp này thì UBND cấp huyện phải lập bản cam kết rồi lại nộp cho UBND huyện để đang ký theo quy định tại Điều 25. Đây là việc làm không hề có một chút ý nghĩa và giá trị về quản lý MT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đề tài khoa học cấp bộ về phát triển bền vững trong hoạt động xây dựng pháp luật: Lý luận và thực tiễn (Phần 2)" mang đến cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa phát triển bền vững và việc xây dựng pháp luật tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khái niệm lý luận và thực tiễn liên quan đến việc áp dụng các nguyên tắc phát triển bền vững trong quy trình lập pháp, từ đó chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực hiện các chính sách pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững. Bài viết không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn đưa ra những ví dụ thực tiễn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của phát triển bền vững trong lĩnh vực pháp luật.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình", nơi đề cập đến các khía cạnh pháp lý trong việc giải quyết khiếu nại đất đai, một phần quan trọng trong chính sách phát triển bền vững.

Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức áp dụng pháp luật trong quản lý tài nguyên đất đai, một yếu tố thiết yếu trong phát triển bền vững.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Thực trạng và giải pháp cho hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam", một lĩnh vực đang ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh phát triển bền vững và chuyển đổi số hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý liên quan đến phát triển bền vững.