không thuộc lĩnh vực MT (không phải là VB điều chỉnh trực tiếp) nhưng có thể có những tác động gián tiếp lớn tới MT, chẳng hạn các luật thuế như Luật thuế xuất nhập khẩu, Luật thuế thu nhập DN. Nghị quyết 41/NQ/TU đã khẳng định, một trong những giải pháp chính là áp dụng các biện pháp KT trong BVMT. Như vậy, chính sách thuế bao gồm cả thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập DN. cần nhìn nhận cả dưới giác độ MT.
Không chỉ những luật thuế trong lĩnh vực MT (như Luật thuế BVMT), với CS thuế khác nhau thì tác động tới MT có thể khác nhau. Do đó, sự tham gia vào quá trình thâm tra của UBKHCN&MT hoặc các thành viên của UBKHCN&MT là cần thiết. Tuy nhiên, UBKHCN&MT không tham gia vào quá trình thẩm tra các dự án luật này. Tham tra là hoạt động mang tính phản biện và cần thiết, nhất là đối với những chính sách mà CP đệ trình trong dự án, dự thảo.
Tuy nhiên, số lượng ĐBQH kiêm nhiệm chiếm đa số và không ít đại biểu trong các UB, HĐDT lại đang là cán bộ, công chức cua CQ trình dự án luật, pháp lệnh. Do đó, các đại biểu này ít khi có những ý kiến trái chiều mang tinh phản biện ?. - Sau quá trình thẩm tra, UBTVQH xem xét, cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh và sau khi chỉnh ly, bổ sung trình QH thảo luận, thông qua. Trên thực tế, các luật được xem xét, thảo luận tại hai kỳ họp QH.
Tuy nhiên, do thời gian họp QH ngắn nên các ĐBQH không được nghe giải trình, phản biện đầy đủ, nhiều chiều cũng như thời gian không đủ dé thảo luận sâu các van dé của dự thảo luật nên các ý kiến liên quan đến dự thảo luật chưa thực sự thực chất, trên cơ sở tranh luận thắng thắn để đạt đến sự thoả hiệp trong việc cân bằng các nhóm lợi ích trong XH mà chỉ mang vốn của ngành, của địa phương mình "xài" được chừng nào thì "xài", kể cả DB chuyên trách”. Hoạt động lẫy ý kiến nhân dân Hoạt động lấy ý kiến CQ, tổ chức và người dân về dự án luật, pháp lệnh được quy định trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 đã có những bước tiến mới trong vấn để này (Điều 35, Điều 33 khoản 6). Việc lấy ý kiến các CQ, tô chức có liên quan đến dự án luật, pháp lệnh là một khâu rất quan trọng nhằm bảo đảm cho dự án luật, pháp lệnh phù hợp hơn với cuộc sống. Tuy 213 Báo cáo nghiên cứu Đánh giá quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật và phất triển, Nxb.
Lao động — xã hội, Hà nội 2008. 214 phát biểu của Đại biểu quốc hội Nguyễn Văn Son (Lạng sơn), tại phiên họp Quốc hội sáng 23/10/2008 300 nhiên, hoạt động lấy ý kiến thường không đạt được mục đích này. Có nhiều nguyên nhân dén đến tình trạng này, trong đó nguyên nhân chủ yếu là thời gian lây ý kiến các tổ chức liên quan chỉ mang tính đại diện (ví dụ thông qua Hội bảo vệ thiên nhiên MT, VCCI) nhưng với thời gian yêu cầu cho ý kiến ngắn, tài liệu gửi kèm để lấy ý kiến chỉ dừng lại ở VB dự thảo và có thể là một giải trình ngắn về dự án luật, pháp lệnh. Do đó, các CQ, tổ chức có liên quan khó có thể có điều kiện (về thời gian đũng như chính sách chủ yếu, ý đồ mà dự án dé cập) dé xem xét, đánh giá cân trọng các van dé có liên quan đến VB dự thảo.
Hoạt động lấy ý kiến Hội bảo vệ thiên nhiên MT Việt Nam khi ST Luật BVMT, Luật đa dạng sinh hoc đã chứng minh nhận xét này” `”. Việc lấy ý kiến người dân thông qua việc đăng các dự án luật, pháp lệnh về BVMT trên mạng Internet để lấy ý kiến cũng mạng tính hình thức và chỉ đăng dự thảo luật. Cơ chế giải trình phản hồi những ý kiến đóng góp (kể cả trong trường hợp là CQ phản biện chính thức dự án luật) của các CQ, tổ chức được thực hiện một cách hình thức. CQ chủ trì ST dự án luật, pháp lệnh không có sự giải trình cụ thể về những ý kiến tiếp thu, không tiếp thu và lý do của những quyết định này đối với ý kiến đóng góp, phản biện.
Đây là tình trạng lấy ý kiến trong quá trình ST luật nói chung, Luật BVMT năm 2005 nói riêng 71° là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng của Luật BVMT năm 2005. Với quy định tại Điều 33 khoản 6, Điều 35 Luật ban hành VBQPPL năm 2008, hy vọng rằng, tình hình lấy ý kiến, giải trình về việc tiếp thu hoặc không tiếp thu các ý kiến của CQ, tổ chức về những dự án luật, pháp lệnh nói chung và các dự án luật, pháp lệnh về BVMT nói riêng được thực hiện tốt hơn ?!”, Cũng cần nhấn mạnh là, Điều 35 khoản 3 Luật ban hành VBQPPL năm 2008 xác định, Bộ TN-MT có trách nhiệm góp ý kiến bằng VB về tác động tới MT của các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh. Quy định này trong bản thân Luật ban hành VBQPPL năm 2008 cũng đã thể hiện sự quan tâm của QH trong việc triển khai thực hiện các quan điểm về PTBV. ?'° Cá những giai đoạn.
Bộ Tài nguyên vả Môi trường gửi dụ thảo (Luật bảo vệ mâi trường. Luật đa dạng sinh học) va dé nghị góp ý kiến cha Hội bao vệ thiên nhiên và môi trường Việt nam với yêu câu về mặt thời ian rất hạn chế, có trường hợp chỉ trong vòng ! 5 ngày. thậm chí trong vòng 05 ngày phải có ý kiến phan hỗi. “1 Một trong những có quan phản biện chính thức Luật bảo vệ môi trường là Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường, cơ quan được lấy ý kiến là VCCI.
? Điều 33 khoản 6 Luật BHVBQPPL 2008 quy định về nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo phải chuẩn bị báo cáo giải trình. tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức và đăng tải các tải liệu này trên trang thông tin điện tu của Chính phủ hoặc cơ quan. 16 chức chủ trì soạn thảo. Thực trạng của PLMT hiện hành Các luật, pháp lệnh đã được ban hành trong thời gian qua gồm: Luật tài nguyên nước năm 1998, Luật đi sản VH năm 2001, Luật khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005), Luật thuỷ sản năm 2003, Luật đất đai năm 2003, Luật bảo vệ và PT rừng năm 2004, Luật BVMT năm 2005, BLDS năm 2005, BLHS năm 1999, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2001, Pháp lệnh VSAT thực phẩm (VSATTP) năm 2003, Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004.
Có thể đánh giá rằng, trong thời gian qua, QH, UBTVQH đã có nhiều nỗ lực nhằm XD luật, pháp lệnh về MT, BVMT và các nguồn tài nguyên nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn và mục tiêu về PTBV. Với Chương trình XD luật, pháp lệnh của QH nhiệm kỳ XII, nếu Chương trình này được thực hiện trên thực tế, thì trong thời gian tới QH đã hoàn thành nhiệm vụ chung được đề cập tại Nghị quyết 41-NQ/TƯ: Bảo vệ đa dạng sinh học thông qua việc XD, thông qua, ban hành Luật đa dạng sinh học; quan tâm BVMT biển thông qua việc XD, thông qua, ban hành Luật bảo vệ TNMT biển; áp dụng các biện pháp KT trong BVMT thông qua việc XD, thông qua, ban hành Luật thuế BVMT. Tuy nhiên, Chương trình XD luật, pháp lệnh của QH nhiệm kỳ XII chưa chú trọng BVMT không khí. Trong Chương trình này không có chủ trương XD Luật về không khí sạch, 14 một trong những đạo luật quan trọng trong hệ thống các VBQPPL về MT của các quốc gia trên thé giới.
Như vậy, trước năm 2011, chúng ta sẽ chưa có Luật (hoặc pháp lệnh) về BVMT không khi. Có thé đánh giá chất lượng của các VBQPPL về MT và BVMT như sau : - Thứ nhất, còn tôn tại nhiều mâu thuân trong các VBOPPL. Giữa các VBQPPL và ngay trong một VBQPPL cũng tồn tại những mâu thuẫn. Vi dụ: trong Điều 43 Luật BVMT, tổn tại mâu thuẫn giữa khoản | và khoản 2 của Điều này.
Trong khi Điều 43 khoản 1 mục a Luật BVMT năm 2005 đã xác định điều kiện phế liệu được phép nhập khẩu là đã được phân loại, làm sạch thì tại Điều 43 khoản 1 mục b lại cho phép phế liệu có chứa những tạp chất không nguy hại. Điều 43 khoản 1 mục b quy định: "không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xêp, vận chuyên". Như vậy, có thê hiệu rang, trước khi "bi rời ra trong quá 302 trình bốc xếp, vận chuyên" thì các tạp chất này lẫn trong phế liệu và như vậy các phế liệu nhập khẩu được phép chứa một số những tạp chất không nguy hại. Khăng định này còn được củng cô bởi quy định tại Điều 43 khoản 2 mục b về điều kiện của tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu là: "có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu".
Nếu phế liệu đáp ứng đầy đủ yéu cầu là được làm sạch thì việc pháp luật quy định bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải có năng lực xử lý tạp chất là không cần thiết. Và nếu điều này là cần thiết nhằm BVMT chung thì rõ ràng PL đã cho phép phế liệu chứa những tạp chất không nguy hại, ít nhất được hiểu là chứa một tỉ lệ nhất định những tạp chất này. Mặc dù trong quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu không khẳng định rõ sự cho phép nhập khẩu những phế liệu có lẫn những tạp chất không nguy hại nhưng với những phân tích ở trên chúng ta thấy rõ sự cho phép đó. Như vậy, các quy định nêu trên có tính chất loại trừ lẫn nhau.
Theo bất cứ cách hiểu nào thì cũng tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định này và sẽ là nguyên nhân gây ra những khó khăn trong qua trình áp dụng PL. Theo Điều 24 Luật BVMT, cơ sở SX, KD, dịch vụ quy mô hộ gia đình và đối tượng không thuộc quy định tại Điều 14 và Điều 18 của Luật này phải có bản cam kết BVMT. Như vậy, những chiến lược, chính sách, kế hoạch không thuộc Điều 14 ví dụ như các Quy hoạch SDĐ của UBND cấp huyện phải thực hiện lập bản cam kết BVMT và trong trường hợp này thì UBND cấp huyện phải lập bản cam kết rồi lại nộp cho UBND huyện để đang ký theo quy định tại Điều 25. Đây là việc làm không hề có một chút ý nghĩa và giá trị về quản lý MT.