đặt vấn đề tranh chấp trước cả hai bên và mong muốn cả hai bên tranh luận một cách mạnh mẽ và triệt để. Cuối cùng, vào cuối phiên họp, Ban hội thẩm sẽ nghe các bên làm sáng rõ các bản tường trình, đôi khi, các bên bị đơn không thể tiến hành bào chữa cho đến lần đối chất thứ hai. Trên thực tế, nguyên nhân của sự trì hoãn thường là sự chậm chạp của các bên tranh cãi. Ban hội thẩm phải đệ trình bản báo cáo không được quá 6 tháng (không được quá 3 tháng trong trường hợp khẩn cấp) kể từ khi được thành lập hoặc từ khi các điều khoản tham chiếu được đồng ý.
Nếu Ban hội thẩm tiến hành nhiều hơn thời gian cho phép, thì phải thông báo cho Hội đồng bằng văn bản nêu rõ lý do của sự trì hoãn, đồng thời dự đoán khi nào Ban hội thẩm sẽ hoàn thành trách nhiệm. Khi đủ thông tin cần thiết, Ban hội thẩm chỉ thị cho Ban thư ký để bắt đầu soạn thảo bản báo cáo mà không có mặt các bên tranh chấp. Báo cáo này sẽ được sử dụng như một nền tảng cho bản báo cáo cuối cùng tới các bên ký kết. Ban hội thẩm sẽ đánh giá một cách khách quan về những thực tế và việc các bên có tuân theo Hiệp định hay không.
Trước khi Ban hội thẩm gửi Báo cáo tới các bên ký kết, bản phác thảo của các phần phải được thông báo tới các bên tranh chấp để xin ý kiến bằng văn bản. Sau đó, bản phác thảo của toàn bộ báo cáo bao gồm các quy tắc giải quyết tranh chấp phải được thông báo cho các bên tranh chấp để xin ý kiến thêm. Mục đích là các bên tranh chấp phải được biết tới Báo cáo của Ban hội thẩm và các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 bên tranh chấp phải đạt được một giải pháp thoả đáng trước khi bản báo cáo được trình lên các bên ký kết. Nếu không có sự phản đối nào thì Báo cáo của Ban hội thẩm được chuyển tới các bên ký kết thông qua Hội đồng.
Hội đồng tiến hành xem xét bản báo cáo ngay sau đó, mặc dù nó có thể trì hoãn quá trình xem xét cho tới chương trình nghị sự kế tiếp của Hội đồng nếu một bên tranh chấp yêu cầu như vậy. Như vậy Báo cáo của Ban hội thẩm chưa có giá trị pháp lý ngay. Theo thông lệ, Báo cáo của Ban hội thẩm phải được chấp nhận trên cơ sở đồng thuận, có nghĩa là Báo cáo sẽ trở thành "quyết định" chỉ khi không có một bên ký kết nào phản đối. Bước 6: Thực thi phán quyết Các quy tắc giải quyết tranh chấp của Hội đồng sẽ hướng dẫn các bên ký kết loại bỏ hoặc điều chỉnh biện pháp nếu biện pháp không hợp pháp theo Hiệp định GATT, hoặc tiến hành các hành động khác để duy trì sự cân bằng của các nhượng bộ nếu biện pháp tìm thấy là hợp pháp theo Hiệp định GATT nhưng đã làm vô hiệu hoá những lợi ích được trông đợi một cách hợp lý từ Hiệp định GATT.
Thông thường, bên khiếu nại có trách nhiệm bảo đảm các vấn đề tranh chấp phải có sự tham dự đều đặn của Hội đồng. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày chấp nhận Báo cáo, bên tranh chấp phải thông báo ngay cho Hội đồng về dự định của họ có liên quan đến việc thực thi các quy tắc và phán quyết trong một thời hạn hợp lý dành cho thành viên vi phạm phụ thuộc vào sự đồng ý của Hội đồng, hoặc các bên tranh chấp, hoặc sẽ được quyết định bởi trọng tài. Thời hạn hợp lý này thông thường không vượt quá 15 tháng kể từ khi chấp nhận bản báo cáo của Ban hội thẩm. Sáu tháng sau khi đưa ra một khoảng thời hạn hợp lý cho việc thực thi, vấn đề sẽ tự động được đưa vào chương trình nghị sự của Hội đồng và tiếp tục được duy trì trong chương trình nghị sự của Hội đồng cho đến khi giải quyết ít nhất là 10 ngày trước mỗi cuộc họp của Hội đồng, thành viên vi phạm phải thông báo bằng văn bản tới Hội đồng về tiến triển trong việc thực thi phán quyết.
Những hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT và sự cần thiết ra đời một cơ chế giải quyết tranh chấp thiết thực và hữu hiệu - cơ chế của WTO TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Không thể phủ nhận rằng hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã có đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển của hệ thống giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, thực tế áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng cho thấy những hạn chế làm giảm tính hiệu quả và hiệu lực của nó, thể hiện: - Trước hết, tiến trình giải quyết tranh chấp của GATT không ổn định, không rõ ràng, dễ bị trì hoãn ở mọi giai đoạn. Một số quy định như sự vô hiệu hoá và suy giảm hầu như không thể sử dụng được cho mục tiêu giải quyết tranh chấp. Nhiều quy định của GATT về giải quyết tranh chấp chỉ mang tính quy tắc, hướng dẫn cho các bên khi tham gia vào tiến trình trên.
Kết quả là bên vi phạm không thực hiện hoặc thực hiện nhưng không phù hợp với các phán quyết trong Báo cáo của Ban hội thẩm. Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp theo quy định của GATT chỉ được tiến hành ở một cấp, tức là chỉ được xem xét thông qua Ban hội thẩm. Các bên tranh chấp không có quyền kháng cáo, GATT không có Cơ quan phúc thẩm để xem xét lại vụ tranh chấp một cách thoả đáng. Do vậy, tính chính xác trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên không được đảm bảo.
- Thứ ba, toàn bộ hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT được đặt trên cơ sở ra quyết định đồng thuận, nghĩa là cần phải đạt được sự nhất trí của bên bị khiếu nại trước khi tiến hành các quy trình thành lập Ban hội thẩm, xác định những điều kiện tham chiếu, chỉ định thành viên Ban hội thẩm, thông qua phán quyết và cho quyền trả đũa. Đây là nguyên nhân gây chậm trễ hoặc bế tắc trong việc thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm, bởi bất kỳ một bên ký kết nào (kể cả bên tranh chấp) cũng có thể phản đối hay trì hoãn những việc làm này. Việc chấp nhận bản báo cáo và thực thi cũng có thể bị ngăn chặn ở mọi bước bởi sự phản đối kiên quyết của các bên tranh chấp. Và do vậy có thể gây thiệt hại cho quốc gia bị hại do thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài.
Suy cho cùng, GATT vẫn là tổ chức dựa trên sự đồng thuận và những biện pháp giải quyết tranh chấp chẳng khác gì gợi ý làm thế nào để giải quyết tranh chấp nhanh chóng hơn. Do vậy, đây được xem là là nhược điểm lớn nhất trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 - Thứ tư, việc thực thi phán quyết của Hội đồng GATT dễ bị thất bại vì có vô số cách mà một nước thành viên có thể ngăn cản việc thực thi phán quyết, không có một cơ quan đa phương để giám sát việc thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của GATT. Các khuyến nghị của GATT chủ yếu định hướng vào hành vi tương lai của bên vi phạm mà không có quy định nào về biện pháp bồi thường thiệt hại.
GATT cũng không quy định khoảng thời gian hạn chế để bên vi phạm thi hành phán quyết, điều này dẫn đến việc thi hành các phán quyết của GATT bị kéo dài nhiều năm. Vũ khí chủ yếu của GATT để bảo đảm tuân thủ - đó là biện pháp trả đũa. Nhưng ngay cả biện pháp này cũng rất mơ hồ và hiếm khi được sử dụng, chỉ duy nhất vụ Hà Lan kiện Mỹ về các biện pháp hạn chế nhập khẩu sữa năm 1952 là được Hội đồng GATT cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa. Đây là lý do làm giảm giá trị hiệu lực của các phán quyết của GATT trong việc giải quyết tranh chấp.
- Thứ năm, rất khó tìm thấy thành viên đủ năng lực của Ban hội thẩm. Khoảng một phần năm các nước thành viên của GATT không duy trì đại biểu thường xuyên của mình tại Giơnevơ, kết quả là họ hiếm khi có được cá nhân có đủ năng lực để tham dự vào Ban hội thẩm. Thực tế cho thấy, Ban hội thẩm thường né tránh hơn là đối đầu trực tiếp với khó khăn và những gì mà Ban hội thẩm tìm được thường không có mấy giá trị trong việc kết thúc tranh chấp. Hơn thế nữa Ban hội thẩm không phải là một cơ quan thường trực, không hỗ trợ sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT.
- Thứ sáu, cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT chưa bảo vệ được lợi ích của các nước đang phát triển và kém phát triển trong quá trình giải quyết tranh chấp. - Thứ bảy, việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đơn phương ngày càng tăng khi các yêu cầu cho phép đình chỉ nhượng bộ không được chấp thuận và trên thực tế tình trạng này đã làm đau đầu Hội đồng GATT. Tóm lại, hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT là trình tự tố tụng thường bị kéo dài, dễ bị chi phối bởi các bên tranh chấp và thiếu hiệu quả, đặc biệt là trong việc thi hành những khuyến nghị và phán quyết. Những hạn chế của cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 chế giải quyết tranh chấp của GATT đã được thảo luận tại Vòng đàm phán Uruguay và một trong những kết quả của Vòng đàm phán này là sự ra đời của của Tổ chức thương mại thế giới và cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995 theo Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế giới. WTO là một thiết chế liên Chính phủ quy định cơ sở pháp lý và tổ chức cho việc thực hiện nghĩa vụ điều chỉnh và thi hành pháp luật thương mại quốc tế của các thành viên. Tổ chức này được xem là nền tảng cho sự phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia thông qua thảo luận, đàm phán và giải quyết các vấn đề có liên quan đến thương mại quốc tế. Sau khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay ngày 15/12/1993, các quan chức cấp Bộ trưởng đại diện cho những nước tham gia đàm phán đã ký kết Văn kiện cuối cùng tại cuộc họp ở Marrakesh, Marocco ngày 14/4/1994 (Tuyên bố Marrakesh).