Chương 1. Một số vấn đề chung về giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam; Chương 2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam; Chương 3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Trọng tài tại Việt Nam.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Hoạt động thƣơng mại diễn ra kể từ khi xuất hiện hàng hóa, con ngƣời bắt đầu tiến hành các trao đổi hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của mình. Những mâu thuẫn xuất phát từ việc sản xuất, trao đổi và thông thƣơng hàng hoá cũng bắt đầu xuất hiện, đó là tranh chấp thƣơng mại.
Dƣới góc độ pháp lý, tranh chấp đƣợc hiểu là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong một quan hệ xã hội nhất định đƣợc pháp luật điều chỉnh [6]. Quan niệm về tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài trong mỗi giai đoạn có nhiều cách hiểu khác nhau. Các hệ thống pháp luật của các nƣớc trên thế giới cũng có những cách hiểu khác nhau. Để hiểu rõ hơn về thế nào là tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài, chúng ta cần phân tích rõ về hai khái niệm “tranh chấp thƣơng mại” và “yếu tố nƣớc ngoài”.
Khái niệm tranh chấp thương mại Thời kỳ Phong kiến, việc giải quyết các tranh chấp nói chung đều thông qua các quan lại thuộc chính quyền và chủ yếu trên cơ sở ý chí chủ quan của họ. Trong khi đó, các quan hệ thƣơng mại không có luật điều chỉnh riêng mà nằm rải rác trong các luật dân sự. Vì vậy tranh chấp thƣơng mại và tranh chấp dân sự không có sự phân biệt và đều là những tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ xã hội. Thời kỳ Pháp thuộc, theo quan niệm của Bộ Luật Thƣơng mại Pháp, thƣơng mại tách biệt với dân sự nhƣng chỉ là một dạng đặc thù của quan hệ dân sự.
Các hành vi thƣơng mại bao gồm 6 loại: mua tài sản để bán lại; các xí nghiệp sản xuất, chuyên chở những hãng thầu cung cấp vật liệu, những hãng bán đấu giá 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công khai; các nghiệp vụ hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán, bảo hiểm; các nghiệp vụ trung gian, đại diện, đại lý thương mại; khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; giải trí công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, rạp xiếc. Còn theo Bộ luật Thƣơng mại của Việt Nam Cộng hòa, hành vi thƣơng mại đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Các hành vi chế tạo, chế biến các sản phẩm kỹ nghệ; Khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; Mua hàng để bán lại; Thuê tài sản; Các hoạt động vận chuyển, bảo hiểm, hối đoái ngân hàng, giao dịch chứng khoán, trung gian thƣơng mại. Tranh chấp thƣơng mại theo Luật Thƣơng mại 1997 là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại [Điều 238]. Tuy nhiên, Luật Thƣơng mại 1997 đã thu hẹp phạm vi quyết tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng thƣơng mại.
Trong khi đó, chỉ đƣợc coi là hợp đồng thƣơng mại khi đó là hợp đồng ký giữa các thƣơng nhân liên quan đến 14 hành vi thƣơng mại theo quy định tại Điều 45. Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thƣơng mại đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: tranh chấp kinh tế, tranh chấp thƣơng mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thƣơng mại. Các nhà nghiên cứu luôn cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh doanh. Nguyễn Thị Kim Vinh cho rằng trong các loại hình tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó, một số trƣờng hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế đƣợc sử dụng với ý nghĩa tƣơng đƣơng với nhau[33].
Sau khi Việt Nam ký Hiệp định Thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 13/7/2000 và đƣợc Quốc hội phê chuẩn ngày 28/11/2001, quan niệm về thƣơng mại và tranh chấp thƣơng mại của chúng ta đã đƣợc mở rộng và mang 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản chất của thƣơng mại. Khái niệm thƣơng mại bao gồm thƣơng mại hàng hoá, thƣơng mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tƣ. Còn tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thƣơng mại [Điều 9. Ngoài ra Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ còn phân biệt thêm về Thƣơng mại nhà nƣớc.
Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam sửa đổi và ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật quan trọng sau này về thƣơng mại và giải quyết tranh chấp thƣơng mại. Các quan niệm về thƣơng mại nhƣ trong Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục đƣợc thể hiện trong Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 và Luật Thƣơng mại 2005. Hoạt động thƣơng mại đƣợc quy định trong Luật Thƣơng mại 2005 đã đƣa bản chất của thƣơng mại gần với thông lệ quốc tế hơn. Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác [Điều 2 Luật Thƣơng mại 2005].
Các khái niệm về thƣơng mại này đã loại bỏ yếu tố “chính sách kinh tế - xã hội” so với quy định trong Luật Thƣơng mại 1997 và không bó hẹp phạm vi chủ thể là thƣơng nhân. Đó là điểm nổi bật của Luật Thƣơng mại 2005 mà chúng ta đã làm đƣợc để phù hợp với quy định trên thế giới. Theo Luật mẫu của UNCITRAL năm 1985, thuật ngữ “thƣơng mại” đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là các vấn đề nêu lên từ tất cả các quan hệ mang bản chất thƣơng mại, xuất phát từ hợp đồng hoặc không từ hợp đồng. Các quan hệ mang bản chất thƣơng mại bao gồm, nhƣng không giới hạn, những giao dịch sau: Mọi giao dịch thƣơng mại từ việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện thƣơng mại hoặc văn phòng đại diện, đại lý; cho thuê tài chính; xây dựng; tƣ vấn; kỹ thuật; cấp phép; đầu tƣ; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hay nhƣợng quyền; liên doanh và các hình thức khác của công nghiệp hay hợp thƣơng mại; vận 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển hàng hoá hoặc hành khách bằng máy bay, đƣờng biển đƣờng sắt hay đƣờng bộ.2 Quan niệm về yếu tố nước ngoài trong tranh chấp thương mại: Thuật ngữ “yếu tố nƣớc ngoài” lần đầu tiên đƣợc xác định cụ thể trong Bộ Luật Dân sự 1995.
Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc hiểu là các quan hệ dân sự có ngƣời nƣớc ngoài, pháp nhân nƣớc ngoài tham gia hoặc căn để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài [Điều 826]. Nghị định số 60/CP ngày 06/6/1997 hƣớng dẫn thi hành các quy định của Bộ Luật Dân sự 1995 về quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài một lần nữa khẳng định yếu tố nƣớc ngoài thuộc một trong các trƣờng hợp: Có ngƣời nƣớc ngoài, pháp nhân nƣớc ngoài tham gia; Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt ở nƣớc ngoài; Tài sản liên quan ở nƣớc ngoài. Trong đó, "ngƣời nƣớc ngoài" là ngƣời không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nƣớc ngoài và ngƣời không có quốc tịch; "Pháp nhân nƣớc ngoài" là tổ chức có tƣ cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nƣớc ngoài. Bắt đầu từ Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, khái niệm yếu tố nƣớc ngoài đƣợc xác định rõ ràng hơn, trong đó quy định có ít nhất một trong các đƣơng sự là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đƣơng sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan ở nƣớc ngoài (Khoản 2 Điều 405).
Điều 758 Bộ luật Dân sự 2005 xác định: Yếu tố nước ngoài là có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan ở nước ngoài. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, Bộ luật Dân sự 2005 đã đƣa thêm chủ thể ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào khái niệm yếu tố nƣớc ngoài để thừa nhận trên thực tế, khi giải quyết các tranh chấp có liên quan đến ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc xác định thế nào là "ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài" không dễ dàng. Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch 2008 xác định "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài".
Vậy thời hạn bao lâu thì đƣợc xác định là lâu dài ? Trƣờng hợp ngƣời Việt Nam đi công tác, học tập hoặc du lịch nhƣng họ không về nƣớc khi hết thời hạn có đƣợc coi là ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài hay không? 1. Đặc điểm của tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Với việc làm rõ các quan niệm về thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài ở phần trên, tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài có những đặc điểm sau: Thứ nhất, đó là các mâu thuẫn, xung đột về lợi ích thƣơng mại giữa các bên khi tham gia các quan hệ thƣơng mại, quan hệ pháp luật khác. Thứ hai, các mâu thuẫn, xung đột này phát sinh từ các quan hệ pháp luật đƣợc thiết lập trên cơ sở bình đẳng, thoả thuận, tự nguyện.