phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự vào giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ; 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự vào giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ; Chƣơng 3: Áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự vào việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC CHIẾM HỮU THỰC SỰ VÀO GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong luật quốc tế. Trong lịch sử phát triển của luật quốc tế, có nhiều nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế đƣợc áp dụng để giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Các nguyên tắc và quy phạm này và cơ sở pháp lý quan trọng để chứng minh chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ tranh chấp.
Chƣơng này trình bày nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế và ý nghĩa của nguyên tắc đến việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Khái quát về giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ 1. Chủ quyền lãnh thổ * Lãnh thổ quốc gia Hiện nay, trong pháp luật quốc tế nói chung, việc đƣa ra khái niệm về lãnh thổ quốc gia còn có sự khác biệt và từng quốc gia có định nghĩa khác nhau về lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, muốn hiểu thế nào là lãnh thổ quốc gia thì trƣớc tiên phải hiểu đƣợc thế nào là quốc gia.
Về cơ bản, khái niệm quốc gia đƣợc hiểu là một thực thế pháp lý gồm ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, dân cƣ và quyền lực công cộng. Trong pháp luật quốc tế, quốc gia là chủ thể căn bản, là yếu tố quan trọng trong việc hình thành các mối quan hệ mang tính chất pháp lý. Trong pháp luật quốc tế có rất nhiều định nghĩa về lãnh thể quốc gia và điều này xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, đa phần đều cho rằng: lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng nƣớc, vùng trời trên vùng đất và vùng nƣớc cũng nhƣ lòng đất dƣới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của mỗi quốc gia nhất định.
Trên cơ sở đó, Từ điển Luật học [1] định nghĩa: lãnh thổ quốc gia là một phần của Trái đất, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc chủ quyền hoàn toàn của một quốc gia, bao gồm vùng đất, vùng trời bên trên và lòng đất bên dƣới. Lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm. Điều này đã đƣợc nƣớc ta tiếp thu và ghi nhận trong bản Hiến pháp 2013, cụ thể: Điều 1 của Hiến pháp 2013 ghi nhận: nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nƣớc độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Việc quy định về vấn đề lãnh thổ quốc gia trong văn bản tối thƣợng của mỗi một quốc gia đã khẳng định vai trò quan trọng và tính chất đặc biệt của vấn đề trên.
Việc khẳng định vai trò quan trọng của lãnh thổ quốc gia đã và đang đặt nền tảng cho việc áp dụng các quy phạm pháp lý quan trọng nhằm thực hiện quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển lãnh thổ quốc gia trong thực tiễn. Thông qua việc đƣa ra khái niệm về lãnh thổ quốc gia, bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia, theo giáo trình Luật quốc tế của Đại học Luật Hà Nội [2], đƣợc xác định, bao gồm những bộ phận sau: Một là, lãnh thổ quốc gia có vùng đất: vùng đất lãnh thổ gồm toàn bộ phần đất lục địa và các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia (kể cả các đảo ven bờ và các đảo xa bờ). Vùng đất có vị trí chiến lƣợc quan trọng trong xây dựng và phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của mỗi một quốc gia. Đối với các quốc gia quần đảo ( Indonesia, Philippines,…) thì vùng đất của quốc gia là tập hợp tất cả các đảo thuộc chủ quyền của quốc gia đó.
Vùng đất của quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia, bất kể vị trí một phần hay toàn bộ của chúng nằm ở đâu. Hai là, bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia, ngoài vùng đất, còn có vùng nƣớc. Vùng nƣớc là toàn bộ các phần nƣớc nằm trong đƣờng biên giới quốc gia. Cùng với vùng đất, vùng nƣớc có vị trí chiến lƣợc trong sự phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia, góp phần bảo vệ lãnh thổ vùng đất quốc gia và có tác động trong tiến trình xây dựng và phát triển.
Dựa vào vị trí, tính chất riêng của từng vùng, vùng nƣớc đƣợc chia thành các thành phần, cụ thể: vùng nƣớc nội địa, vùng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc biên giới, vùng nội thủy và vùng nƣớc lãnh hải. Việc phân định vùng nƣớc thành các thành phần cụ thể có tác dụng quan trọng trong việc áp dụng các quy định pháp lý có liên quan để từ đó tạo nền tảng cho công tác bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Ba là vùng lòng đất: là toàn bộ phần nằm dƣới vùng đất và vùng nƣớc thuộc chủ quyền quốc gia. Hiện nay, có sự định nghĩa khác nhau về vùng lòng đất tùy sự nghiên cứu các quốc gia.
Tuy nhiên, có điểm chung là xem vùng lòng đất của quốc gia là toàn bộ phần nằm dƣới vùng đất, vùng nƣớc ở phía trong đƣờng biên giới quốc gia. Theo nguyên tắc chung đƣợc mặc nhiên thừa nhận thì vùng lòng đất đƣợc kéo xuống tận tâm trái đất. Việc quy định nhƣ trên đảm bảo các quyền lợi cần thiết của quốc gia đáp ứng với tình hình thay đổi trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay. Bốn là vùng trời: Là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất và vùng nƣớc của quốc gia.
Vùng trời đƣợc xem là khoảng không bên trong đƣờng biên giới quốc gia. Giới hạn bên ngoài vùng trời của một quốc gia đƣợc xác định bởi mặt phẳng thẳng đứng, vuông góc từ đƣờng biên giới quốc gia trên đất liền, từ ranh giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải của đất liền và các hải đảo hƣớng lên khoảng không vũ trụ. Đa số các nƣớc trên thế giới xác định độ cao vùng trời là 100 đến 110 km từ mực nƣớc biển trở lên. Vùng trời là một trong ba bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia: vùng đất, vùng biển và vùng trời.
Khái niệm và các chế định pháp lý của vùng trời đƣợc hình thành từ cuối thế kỷ thứ 19 cùng với sự xuất hiện của các thiết bị bay nhƣ máy bay, khinh khí cầu. Các quốc gia đều có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và toàn vẹn đối với vùng trời của mình. Xâm phạm vùng trời đƣợc công pháp quốc tế thừa nhận là xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Năm là vùng lãnh thổ đặc biệt: Ngoài các vùng lãnh thổ nói trên, các tàu thuyền, các phƣơng tiện bay mang cờ hoặc mang dấu hiệu riêng biệt và hợp pháp của quốc gia, các công trình nhân tạo, các thiết bị, hệ thống cáp ngầm, ống dẫn ngầm,…hoạt động nằm ngoài phạm vi lãnh thổ của các quốc gia nhƣ vùng biển 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc tế, vùng nam cực, khoảng không vũ trụ… cũng đƣợc thừa nhận nhƣ một phần lãnh thổ quốc gia.
* Chủ quyền lãnh thổ Trong việc xây dựng và phát triển đất nƣớc thì việc xác định chủ quyền lãnh thổ quốc gia là điều vô cùng quan trọng. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia hiện nay tùy theo mỗi quốc gia có sự quy định khác nhau. Tuy có sự khác nhau về định nghĩa nhƣng các quốc gia đều giống nhau ở chỗ xem xét chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình. “Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao của một nƣớc trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của nƣớc đó trong các quan hệ khu vực và thế giới.
Không có một quốc gia, tổ chức, cá nhân nào ở bên ngoài có quyền xâm phạm sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia cũng nhƣ can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia đó”[1]. Các quốc gia trong pháp luật quốc tế đều cho rằng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, và quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp lý đối với lãnh thổ. Nhà nƣớc có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của nhà nƣớc. * Quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, các quốc gia có quyền tự ấn định quy chế pháp lý đối với lãnh thổ của mình có tính đến những yêu cầu chung của Luật pháp Quốc tế.
Trên cơ sở ban hành các quy định quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia đƣợc quốc gia chủ nhà quy định dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế hiện đại quốc gia ban hành các văn bản pháp lý chứa đựng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ có liên quan đến lãnh thổ quốc gia. Quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia là sự biểu hiện và cụ thể hóa quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ của mình đƣợc luật Quốc tế thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Đây là chủ quyền không thể phân chia và tƣớc đoạt của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Quá trình thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của quốc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gia đối với lãnh thổ đƣợc thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan Nhà nƣớc, bao gồm các hoạt động lập pháp, hành pháp và tƣ pháp.
Theo giáo trình Luật quốc tế của Đại học Luật Hà Nội [2], quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia thể hiện ở nội dung sau: Một là, quốc gia có toàn quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội phù hợp với nguyện vọng của cộng đồng dân cƣ sống trên lãnh thổ đó mà không có sự can thiệp hay áp đặt dƣới bất kỳ hình thức nào từ bên ngoài Hai là, quốc gia có toàn quyền trong việc bảo vệ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và đƣờng biên giới quốc gia và chống lại mọi hành vi xâm phạm từ bên ngoài.