Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Chương 3: Thực trạng pháp luật về xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD từ thực tiễn của Tòa án nhân dân tối cao. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao.
7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng 1.Về khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh Khái niệm bảo lãnh nêu trong một số công trình khoa học [88, tr.101] của các tác giả Nguyễn Mạnh Bách, Nguyễn Ngọc Điện, Lê Thị Thu Thủy và trong Luật La Mã, Quốc triều Hình luật…đều có nội hàm là việc người thứ ba cam kết bảo đảm cho nghĩa vụ của người có nghĩa vụ; và bảo lãnh là một hợp đồng giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh. Đặc điểm của bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng: - Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân: Tác giả Nguyễn Mạnh Bách viết, “Ngày nay, sự bảo lãnh ít thông dụng, mỗi khi giao kết trái chủ thường đòi hỏi một bảo đảm đối vật trên tài sản của trái hộ, bảo đảm này hữu hiệu hơn sự bảo lãnh ” [1, tr.
Tác giả Nguyễn Thị Nga cũng gián tiếp thừa nhận bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân khi nhận định “…Đây là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân…. Nghĩa là bên cho vay bỏ ra một khoản tiền vay cho bên kia và khoản vay đó được bảo đảm thông qua [lời hứa] của chủ thể thứ ba…” [81, tr.20]; tác giả Phạm Văn Đàm khẳng định “…so với các biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân…” [46, tr. Tác giả Trương Thanh Đức khi nghiên cứu về bảo lãnh có đưa ra kiến nghị, “Về biện pháp bảo lãnh: Đề nghị sửa đổi Bộ luật Dân sự theo hướng, quy định rõ bảo lãnh là biện pháp bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba, nhưng không đưa tài sản vào cầm cố, thế chấp” [168]. 8 Ngược lại, các tác giả Lê Thị Thu Thủy, Nguyễn Anh Sơn cho rằng, trong lĩnh vực hoạt động cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng Việt Nam theo pháp luật hiện hành không chỉ thuần túy là biện pháp bảo đảm đối nhân mà còn có thể là bảo lãnh đối vật, bởi lẽ người bảo lãnh cũng có thể phải thế chấp hoặc cầm cố tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thanh toán cho người được bảo lãnh.
Trường hợp thứ hai chính là bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba [150, tr. Đồng tình với quan điểm này, tác giả Nguyễn Ngọc Điện có góc nhìn so sánh, theo nghĩa nguyên thủy của bảo lãnh trong Luật La tinh cổ thì bảo lãnh là hoàn toàn đối nhân, nhưng quá trình sau này, tại Pháp các học thuyết pháp lý và Án lệ đã chấp nhận hình thức bảo lãnh đối vật (Cautionnement réel) và thực tế, bảo lãnh đối vật mới là hình thức được ưa chuộng [42, tr. Tác giả Nguyễn Thúy Hiền diễn giải rõ hơn, “Nhằm giảm sự khác biệt so với pháp luật của các nước trong quá trình hội nhập quốc tế, BLDS năm 2005 chuyển bảo lãnh bằng tài sản cụ thể trong BLDS 1995 thành cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba. Từ đó, không còn quy định về bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003, mà được chuyển thành thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba và pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm không quy định đăng ký bảo lãnh” [171].
Như vậy, về mặt lý luận thì trên thế giới cũng đã có những trường phái luật theo xu hướng xác định bảo lãnh có thể là biện pháp bảo đảm đối vật. Ở Việt Nam, khi xây dựng BLDS năm 1995 đã đi theo hướng này, tuy nhiên từ năm 2005 khi sửa đổi BLDS 1995 thì bảo lãnh lại được quy định theo hướng là biện pháp bảo đảm đối nhân. - Quan hệ bảo lãnh tồn tại dưới dạng hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Ngay trong khái niệm bảo lãnh của một số nước như La Mã, Pháp, Đức đều thể hiện, bảo lãnh đảm bảo nghĩa vụ dân sự là một hợp đồng. Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan cũng quy định về hình thức của 9 hợp đồng bảo lãnh phải bằng văn bản.
Đặc biệt, Bộ luật Dân sự Pháp còn yêu cầu người bảo lãnh phải viết tay giá trị số tiền cam kết bảo lãnh bằng số và bằng chữ. Bộ luật Dân sự Campuchia còn thừa nhận tính pháp lý của hợp đồng bảo lãnh được thể hiện bằng lời nói, mặc dù tính pháp lý của loại hợp đồng này là không cao [9]. Tác giả cuốn sách “The Modern Contract of Guarantee” (2003) (hợp đồng bảo lãnh hiện đại) cho rằng, “về nguyên tắc hợp đồng bảo lãnh không nhất thiết phải tồn tại dưới dạng văn bản, nhưng để có bằng chứng cụ thể và có giá trị đối với người thứ ba thì hợp đồng bảo lãnh phải được lập dưới dạng văn bản”. UNCITRAL lại khuyến nghị, “Luật nên quy định hợp đồng bảo đảm có thể bằng miệng nếu bên nhận bảo đảm chiếm hữu tài sản bảo đảm” [200].
Trong bảo lãnh bảo đảm nghĩa vụ dân sự thì nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam đồng tình với quan điểm của các tác giả Phạm Văn Tuyết và Lê Thị Kim Giang “về bản chất thì quan hệ bảo lãnh là một loại giao dịch dân sự, quan hệ giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh là một hợp đồng” [149, tr. Tác giả Võ Đình Toàn phân tích rõ hơn, thực tiễn pháp lí, quan niệm hợp đồng bảo lãnh là quan hệ hợp đồng là tư tưởng phổ biến;… Đối với cam kết bảo lãnh mà bên bảo lãnh đưa ra thì về bản chất pháp lí đó là dự thảo hợp đồng, nếu không được bên nhận bảo lãnh chấp nhận thì quan hệ bảo lãnh không được thiết lập; hợp đồng bảo lãnh bắt buộc phải có hai bên: bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh [148, tr 41-46]. Cùng chung quan điểm về vấn đề này, tác giả Nguyễn Ngọc Điện khẳng định, “Bảo lãnh là một quan hệ pháp luật hình thành do sự gặp gỡ ý chí giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh. Đó thực sự là một hợp đồng chứ không phải là loại giao dịch một bên.
Tuy nhiên, hợp đồng bảo lãnh là giao ước đơn vụ: chỉ có người bảo lãnh là người có nghĩa vụ…” [ 42, tr. 10 Tác giả Bùi Đức Giang viết, “Nhìn chung, dù được thể hiện bằng hình thức văn bản nào đi chăng nữa (hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh, quyết định bảo lãnh,v.v…) thì phải nhìn nhận cam kết bảo lãnh (văn bản bảo lãnh) là hợp đồng chứ không phải là một hành vi pháp lý đơn phương ” [54, tr. Tác giả Lê Thị Thu Thủy cũng có chung quan điểm này [150, tr. Tác giả Trương Thanh Đức cũng cho rằng, “ở Việt Nam, mặc dù bảo lãnh chỉ là một biện pháp bảo đảm gắn với hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ chính, nhưng bảo lãnh có đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng, nhưng trong khoảng thời gian dài biện pháp bảo lãnh không được gắn tên hợp đồng” [50, tr.
Tuy nhiên, tác giả Lê Nguyên quan niệm, “hành vi phát hành cam kết bảo lãnh của bên bảo lãnh là hành vi pháp lý đơn phương, không phải hợp đồng” [83, tr. Về hình thức tồn tại của hợp đồng bảo lãnh, tác giả Trương Thanh Đức cho rằng, bảo lãnh là một trong 6 biện pháp bảo đảm luật buộc phải được lập thành văn bản và điều này còn có điểm chưa hợp lý [50, tr. Đồng tình với quan điểm hợp đồng bảo lãnh phải được lập thành văn bản (có thể lập riêng hoặc trong cùng với hợp đồng tín dụng) và có thể phải được công chứng, chứng thực, còn có các tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang [149, tr.158], tác giả Phạm Văn Đàm [46, tr. Về việc đăng ký biện pháp bảo đảm, tác giả Lê Thị Thu Thủy cho rằng, pháp luật quy định chủ thể của hợp đồng bảo lãnh có quyền thỏa thuận về việc đăng ký hay không đăng ký hợp đồng và việc không đăng ký không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh.
Tương tự áp dụng đối với việc công chứng, chứng thực hợp đồng bảo lãnh [150, tr. Tác giả Phạm Văn Đàm cũng cho rằng, trong trường hợp pháp luật có quy định thì hợp đồng bảo lãnh phải được công chứng, chứng thực; về vấn đề hợp đồng bảo lãnh có phải đăng ký giao dịch bảo đảm hay không thì tác giả theo hướng bản chất của bảo lãnh là đối nhân, nên không phải đăng ký giao dịch bảo đảm [46, tr. Những nội dung chính của quan hệ bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng 1. Chủ thể của quan hệ bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng Như đã trình bày ở phần trên của luận án [tr.10], quan hệ bảo lãnh được xác định là một hợp đồng và đây là hợp đồng được giao kết giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh.
Đối với bên bảo lãnh: Tác giả Phạm Văn Đàm cho rằng, “luật của Pháp đặc biệt chú ý đến khả năng có tài sản để thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh” [46, tr. Pháp luật Nhật Bản cũng quy định, để xác lập biện pháp bảo lãnh thì người bảo lãnh phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đầy đủ các phương tiện để thực hiện trái vụ. Tương tự, Bộ luật Dân sự của Campuchia cũng quy định về năng lực và khả năng thanh toán nợ của người bảo lãnh [46, tr.64] Ở Việt Nam, tác giả Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang cho rằng, “Đối với bảo lãnh dân sự, bên bảo lãnh có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Bên bảo lãnh không phải tuân thủ bất kỳ điều kiện nào khác của pháp luật ngoài việc được bên nhận bảo lãnh đồng ý đưa ra cam kết bảo lãnh” [149, tr.