Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Luật học (chuyên sâu về Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Kinh tế) với đề tài nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng (TCTD) theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC).
Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ các định hướng cải cách tư pháp của Đảng được xác định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020”, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014. Theo đó, yêu cầu trọng tâm là hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động của Tòa án nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả xét xử, từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ căn cứ kháng nghị, làm rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị nhằm khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ. Về mặt thể chế, Hiến pháp năm 2013 xác định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp (Điều 102). Luật Tổ chức TAND năm 2014 quy định hệ thống Tòa án gồm 4 cấp (TANDTC, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện), kéo theo sự thay đổi thẩm quyền thụ lý, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo Điều 18 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015.
Trong thực tiễn kinh tế, nợ xấu tại các TCTD tồn tại như trở ngại lớn làm ách tắc dòng vốn tín dụng. Dù Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) ra đời năm 2013 và Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD, việc xử lý tài sản bảo đảm vẫn gặp nhiều vướng mắc pháp lý. Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn đối với tranh chấp về nghĩa vụ giao hoặc quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu; tuy nhiên, tính đến tháng 8 năm 2020, thực tế chưa có vụ án tranh chấp tài sản bảo đảm đối với khoản tiền vay tại TCTD nào được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Bên cạnh đó, sau khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực, tổng số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án các cấp thụ lý hằng năm tăng trung bình gần 1.100 vụ/năm; riêng năm 2019 thụ lý 69.141 vụ/năm, tính chất tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng phức tạp.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù hợp đồng bảo lãnh tồn tại tương đối độc lập nhưng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng bảo lãnh và các dạng tranh chấp phổ biến của loại hợp đồng này gắn liền với đường lối giải quyết thông qua hoạt động xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của TANDTC; chưa có công trình tổng kết thực tiễn xét xử ở cấp độ này để chỉ ra các điểm bất cập, thiếu sót của luật thực định nhằm đề xuất hoàn thiện đồng bộ cả pháp luật nội dung và tố tụng.
Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 03 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao.
- Tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC, với mong muốn biện pháp bảo lãnh bảo đảm tiền vay tại TCTD trở nên phổ biến; việc giải quyết tranh chấp (nếu có) sẽ nhanh chóng, hiệu quả.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài:
- Câu hỏi thứ nhất: Thực trạng hệ thống pháp luật về bảo lãnh tiền vay tại TCTD đã hoàn chỉnh chưa, những vấn đề gì còn thiếu quy định của pháp luật? Quy định nào không hợp lý?
- Giả thuyết 1: Cơ sở lý luận của pháp luật bảo lãnh tiền vay tại các TCTD ở Việt Nam chưa đầy đủ, toàn diện; các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại các TCTD còn bất cập, thiếu sót, tản mạn, chưa có tính hệ thống.
- Câu hỏi thứ hai: Những vấn đề thường xảy ra tranh chấp trong hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD? Nguyên nhân của những tranh chấp này?
- Giả thuyết 2: Các nội dung thường xảy ra tranh chấp liên quan đến phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh; biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh; thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Nguyên nhân do chưa có đầy đủ các quy định của pháp luật; chưa thỏa thuận rõ trong quá trình giao kết hợp đồng.
- Câu hỏi thứ ba: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đã hoàn thiện chưa, còn có điểm gì bất cập?
- Giả thuyết 3: Pháp luật tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm còn chưa hoàn thiện, đặc biệt là về thời hạn giám đốc thẩm, tái thẩm, về thẩm quyền kháng nghị và về căn cứ để xem xét.
Đối tượng nghiên cứu:
(i) Các quan điểm, công trình nghiên cứu, học thuyết pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
(ii) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; một số quy định của Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hoa Kỳ, Nhật Bản... liên quan đến giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
(iii) Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của quan hệ bảo lãnh tiền vay tại TCTD (chủ thể, đối tượng, nội dung, bản chất, phạm vi nghĩa vụ, thời điểm phát sinh nghĩa vụ, bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh, xử lý tài sản bảo đảm). Giới hạn ở hợp đồng bảo lãnh giữa TCTD (không bao gồm TCTD nước ngoài) với tổ chức, cá nhân đối với khoản vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Không nghiên cứu nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và bảo lãnh đối với hợp đồng dân sự giữa các cá nhân hoặc pháp nhân phi lợi nhuận.
- Về tố tụng: Giới hạn ở việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC.
- Về thời gian và dữ liệu: Sử dụng các quy định của BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015, Luật Các TCTD (có so sánh với các giai đoạn trước); khảo sát các quyết định kháng nghị, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC từ năm 2013 trở lại (mốc cập nhật dữ liệu thực tế đến tháng 8 năm 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chủ đề chính:
| Nhóm chủ đề nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu được điểm luận |
Quan điểm và nội dung học thuật chính trong văn bản |
| Bản chất và đặc điểm của quan hệ bảo lãnh |
Nguyễn Mạnh Bách, Nguyễn Thị Nga, Phạm Văn Đàm, Trương Thanh Đức, Lê Thị Thu Thủy, Nguyễn Anh Sơn, Nguyễn Ngọc Điện, Nguyễn Thúy Hiền, Võ Đình Toàn, Bùi Đức Giang, Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang, Lê Nguyên |
Hai trường phái: bảo lãnh thuần túy đối nhân (Nguyễn Mạnh Bách, Nguyễn Thị Nga, Phạm Văn Đàm, Trương Thanh Đức) và bảo lãnh có thể bao gồm đối vật (Lê Thị Thu Thủy, Nguyễn Anh Sơn, Nguyễn Ngọc Điện với khái niệm cautionnement réel trong luật Pháp; Nguyễn Thúy Hiền lý giải việc chuyển đổi bảo lãnh bằng tài sản từ BLDS 1995 sang thế chấp của người thứ ba trong BLDS 2005). Phần lớn khẳng định bảo lãnh là hợp đồng (Nguyễn Ngọc Điện, Bùi Đức Giang, Võ Đình Toàn); riêng Lê Nguyên cho là hành vi pháp lý đơn phương. |
| Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD |
Trương Thanh Đức, Phạm Tuấn Anh, Đỗ Văn Đại, Duy Kiên, Nguyễn Thùy Trang, Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang, Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Bích, Minh Quân, Nguyễn Anh Đức, Quách Tú Mẫn, Lê Đình Việt, Hoàng Yến |
Phân tích tranh chấp về hình thức, chứng thư bảo lãnh không rõ tài sản/ngày tháng (Đỗ Văn Đại, Phạm Tuấn Anh); tài sản bảo lãnh không thuộc sở hữu của bên bảo lãnh hoặc thuộc sở hữu chung của vợ chồng, hộ gia đình (Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Bích, Minh Quân, Đỗ Văn Đại); tranh chấp về nghĩa vụ hình thành trong tương lai, đảo nợ (Lê Đình Việt); xác định nghĩa vụ dự bị hay liên đới (Đỗ Văn Đại); giải quyết khi bên được bảo lãnh phá sản hoặc bên bảo lãnh chết (Đỗ Văn Đại, Hoàng Yến). |
| Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự |
Đào Xuân Tiến, Hà Thị Thúy Hà, Mai Ngọc Dương, Nguyễn Huy Du, Ngô Anh Dũng, Hà Hoàng Hiệp, Trần Anh Tuấn, Chu Thị Hồng Nhung, Ngô Tiến Hùng |
Làm rõ bản chất giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực (Đào Xuân Tiến, Hà Thị Thúy Hà); phân tích căn cứ kháng nghị loại bỏ yếu tố "điều tra không đầy đủ" (Đào Xuân Tiến, Hà Hoàng Hiệp); thẩm quyền kháng nghị và xét xử qua các thời kỳ từ Pháp lệnh TTGQCVADS đến BLTTDS 2015; quy trình thụ lý và xử lý đơn đề nghị (Nguyễn Huy Du); thời hạn kháng nghị và việc mở rộng 5 năm (Hà Thị Thúy Hà, Ngô Anh Dũng). |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận độc lập từng nhánh vấn đề: hoặc nghiên cứu thuần túy chế định bảo lãnh dưới góc độ luật nội dung (như các công trình của Nguyễn Ngọc Điện, Lê Thị Thu Thủy, Trương Thanh Đức, Bùi Đức Giang, Đỗ Văn Đại), hoặc nghiên cứu thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dưới góc độ tố tụng dân sự nói chung (như Ngô Anh Dũng, Hà Thị Thúy Hà, Đào Xuân Tiến). Chưa có công trình nào kết hợp nghiên cứu toàn diện việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD thông qua thực tiễn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC; chưa phân tích sâu các dạng sai sót cụ thể dẫn đến việc bản án bị kháng nghị và xét xử lại ở cấp cao nhất để rút ra cơ sở hoàn thiện quy phạm pháp luật nội dung và quy trình tố tụng tương ứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên 6 cơ sở lý thuyết nghiên cứu:
- Lý thuyết về hợp đồng nói chung và lý thuyết về hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại các TCTD nói riêng: Nhấn mạnh sự tự nguyện, tự do giao kết trên nguyên tắc bình đẳng, thiện chí; các bên được thỏa thuận mọi nội dung không trái luật và đạo đức xã hội.
- Lý thuyết về bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại các TCTD: Xác lập sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh theo quy định pháp luật.
- Lý thuyết về phòng ngừa rủi ro trong bảo lãnh tín dụng ngân hàng: Tập trung phòng ngừa rủi ro thất thoát vốn tín dụng, bảo vệ quyền lợi của TCTD trong hoạt động cho vay.
- Lý thuyết về quyền tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự: Đương sự tự quyết định việc bảo vệ, khởi kiện hoặc từ bỏ quyền lợi hợp pháp mà không bị cản trở.
- Lý thuyết về Tòa án xét xử đảm bảo công lý, công bằng: Phán quyết của Tòa án hướng đến sự công bằng dựa trên luật pháp; Tòa án thực hiện chức năng giải thích áp dụng pháp luật và phát triển án lệ bổ sung cho hệ thống quy phạm.
- Lý thuyết về đảm bảo độc lập xét xử của Tòa án: Tòa án độc lập trong hoạt động xét xử theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhìn nhận các quy định về bảo lãnh ở trạng thái vận động, lịch sử, không tuyệt đối hóa bản chất bảo lãnh cố định qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong tất cả 4 chương để làm rõ khái niệm, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn xét xử.
- Phương pháp logic, so sánh và kết hợp lý luận với thực tiễn: Áp dụng tại các Chương 2, 3 và 4 nhằm đối chiếu quy định của Việt Nam với pháp luật một số nước (Pháp, Anh, Nga, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia...) và giữa các giai đoạn pháp luật trong nước.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống, sự việc thực tế (Case studies): Phân tích các vụ án cụ thể có tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD được xét xử tại Hội đồng Thẩm phán TANDTC và các án lệ liên quan.
- Phương pháp phỏng vấn, hỏi đáp chuyên gia: Áp dụng tại Chương 3 và Chương 4 thông qua làm việc với danh sách các chuyên gia tư pháp phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và xây dựng kiến nghị.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn bản quy phạm pháp luật: Quốc triều Hình luật (Điều 590), Dân luật Sài Gòn (Điều 1327), BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, BLTTDS năm 2004, BLTTDS sửa đổi năm 2011, BLTTDS năm 2015; Luật Tổ chức TAND năm 2014; Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP; các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ (như Văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP).
- Dữ liệu thực tiễn xét xử: Hồ sơ các vụ án, quyết định kháng nghị, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC từ năm 2013 trở lại (đến tháng 8 năm 2020); số liệu thống kê thụ lý đơn giám đốc thẩm, tái thẩm của hệ thống Tòa án các cấp năm 2019.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về ba mảng: hợp đồng bảo lãnh tiền vay, tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tại TCTD, và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Luận điểm chính của chương:
- Về sự vận động của khái niệm bảo lãnh: Trong lịch sử luật La Mã, bảo lãnh là biện pháp đối nhân thuần túy; tuy nhiên, luật học Pháp và án lệ quốc tế từng ghi nhận hình thức bảo lãnh đối vật (cautionnement réel). Tại Việt Nam, BLDS 1995 từng chấp nhận bảo lãnh bằng tài sản cụ thể, nhưng đến BLDS 2005 và BLDS 2015 đã đưa bảo lãnh trở về đúng bản chất đối nhân, đồng thời chuyển hóa bảo lãnh đối vật thành biện pháp thế chấp, cầm cố tài sản của người thứ ba. Dù vậy, luật hiện hành vẫn cho phép thỏa thuận dùng tài sản để bảo đảm cho chính nghĩa vụ bảo lãnh.
- Về tính chất hợp đồng: Khẳng định quan hệ bảo lãnh hình thành trên sự thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh (TCTD), mang tính độc lập tương đối, không phải là hợp đồng phụ đơn thuần của hợp đồng tín dụng.
- Về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm: Phân tích sự chuyển dịch thẩm quyền qua các thời kỳ tố tụng và chỉ ra việc bãi bỏ thẩm quyền kháng nghị của Chánh án TAND cấp tỉnh theo BLTTDS 2015 là một trong những nguyên nhân làm dồn ứ lượng đơn lên cấp cao và tối cao. Tác giả xác lập khung lý thuyết, câu hỏi, giả thuyết và phương pháp luận cho toàn bộ đề tài.
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quan hệ bảo lãnh tiền vay và cơ chế giải quyết tranh chấp theo thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật.
Các đặc điểm pháp lý cơ bản của bảo lãnh tiền vay tại TCTD được xác định gồm:
- Là biện pháp bảo đảm mang tính chất đối nhân;
- Tồn tại dưới hình thức hợp đồng có tính độc lập tương đối với hợp đồng tín dụng (bên bảo lãnh cam kết trả nợ thay nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ; trách nhiệm thanh toán căn cứ vào cam kết bảo lãnh chứ không phụ thuộc tuyệt đối vào hợp đồng cơ sở);
- Bên nhận bảo lãnh luôn là chủ thể kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp (TCTD);
- Nghĩa vụ được bảo lãnh là khoản nợ vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng (có thể là nghĩa vụ hiện tại hoặc nghĩa vụ hình thành trong tương lai);
- Bên bảo lãnh phần lớn là tổ chức, cá nhân không chuyên nghiệp, tham gia quan hệ xuất phát từ sự tin tưởng, thân quen hoặc quan hệ liên kết doanh nghiệp (công ty mẹ - con).
Về lý luận giải quyết tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD là các bất đồng, mâu thuẫn giữa TCTD và bên bảo lãnh phát sinh sau khi nghĩa vụ trả nợ của bên vay đã đến hạn nhưng không được thực hiện đúng. Tranh chấp này thường được gộp chung để giải quyết đồng thời trong vụ án khởi kiện hợp đồng tín dụng (bên bảo lãnh tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
Về lý luận giám đốc thẩm, tái thẩm: Đây là thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm khắc phục các sai lầm trong bản án đã có hiệu lực pháp luật. Qua khảo sát thực tế của tác giả, 100% các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với loại tranh chấp này đều xuất phát từ sai lầm về mặt nội dung (đánh giá chứng cứ không đúng, áp dụng sai văn bản pháp luật làm sai lệch đường lối giải quyết và ảnh hưởng quyền lợi đương sự), không có vụ án nào chỉ thuần túy vi phạm thủ tục tố tụng mà bị kháng nghị.
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM ĐỐI VỚI TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Chương này phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử thông qua việc khảo sát các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC từ năm 2013 đến tháng 8 năm 2020.
Thực trạng xét xử phản ánh các dạng tranh chấp phổ biến dẫn đến bản án bị kháng nghị, hủy hoặc sửa:
- Tranh chấp về tính hiệu lực của hợp đồng: Người ký bảo lãnh không phải chủ sở hữu tài sản (ví dụ: tài sản thừa kế chưa chia của cha mẹ đã chết nhưng một người con tự ý mang đi bảo lãnh); hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản chung của vợ chồng hoặc quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhưng thiếu chữ ký của đồng chủ sở hữu; chữ ký của người bảo lãnh bị giả mạo; người ký bảo lãnh nhân danh pháp nhân vượt quá thẩm quyền đại diện hoặc ủy quyền lại không đúng luật.
- Tranh chấp phát sinh từ hành vi người có tài sản nhờ người khác đứng tên vay hộ: Người có tài sản ủy quyền hoặc ký bảo lãnh để người khác vay giúp một khoản tiền nhỏ, nhưng người được nhờ đã tự ý nâng số tiền vay lên lớn hơn để chiếm dụng vốn, dẫn đến tranh chấp gay gắt khi nợ quá hạn.
- Tranh chấp về nội dung hợp đồng: Thỏa thuận phạm vi bảo lãnh không rõ ràng (ghi "bảo lãnh cho khoản vay tối đa" hoặc bảo lãnh cho các nghĩa vụ phát sinh trong khoảng thời gian nhưng sau đó phát sinh đảo nợ, phụ lục gia hạn); Tòa án cấp dưới xác định sai tư cách nghĩa vụ dự bị thành liên đới hoặc ngược lại; giải quyết sai quan hệ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh bị mở thủ tục phá sản hoặc bên bảo lãnh là cá nhân qua đời.
Về thực trạng pháp luật tố tụng:
- Thẩm quyền xét xử: Sau khi Luật Tổ chức TAND 2014 và BLTTDS 2015 chuyển thẩm quyền giám đốc thẩm từ cấp tỉnh lên TAND cấp cao và Hội đồng Thẩm phán TANDTC, áp lực thụ lý tại các cơ quan này gia tăng mạnh. Năm 2019, toàn hệ thống Tòa án thụ lý tới 69.141 vụ/năm theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, trung bình tăng gần 1.100 vụ/năm.
- Quy định thời hạn kháng nghị: Việc BLTTDS quy định kéo dài thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm thêm 02 năm (tổng cộng thành 05 năm) trong một số trường hợp tạo ra sự thiếu ổn định cho các giao dịch tín dụng.
- Tình trạng áp dụng thủ tục rút gọn: Mặc dù Nghị quyết 42/2017/QH14 và Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP cho phép áp dụng thủ tục rút gọn đối với tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, nhưng tính đến tháng 8/2020 vẫn chưa có vụ án nào được áp dụng thủ tục này do các tiêu chí áp dụng quá chặt chẽ và tính chất tranh chấp giữa các bên luôn căng thẳng.
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TIỀN VAY TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Chương này đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể trên cả phương diện luật nội dung và luật tố tụng:
Về hoàn thiện pháp luật nội dung:
- Sửa đổi các quy định của BLDS nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ bên nhận bảo đảm ngay tình trong các giao dịch bảo lãnh, ngăn chặn việc Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu tràn lan khi bên bảo lãnh vi phạm nội bộ quyền định đoạt tài sản;
- Bổ sung quy định rõ ràng về biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh (dùng tài sản bảo đảm cho cam kết bảo lãnh);
- Quy định cụ thể điều kiện của bên bảo lãnh về năng lực tài chính và tài sản, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ;
- Quy định rõ trách nhiệm của TCTD trong việc giải thích, tư vấn, cảnh báo rủi ro pháp lý và thông báo kịp thời cho bên bảo lãnh khi bên vay phát sinh vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Về hoàn thiện pháp luật tố tụng và nâng cao hiệu quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm:
- Sửa đổi Luật Tổ chức TAND năm 2014 và BLTTDS năm 2015 theo hướng giao lại thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND cấp huyện cho Chánh án TAND cấp tỉnh nhằm giảm tải cho TANDCC và TANDTC;
- Rút ngắn thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, bãi bỏ quy định kéo dài thời hạn kháng nghị lên 05 năm nhằm đảm bảo tính ổn định của phán quyết tư pháp;
- Nghiên cứu sửa đổi các điều kiện để có thể áp dụng thủ tục rút gọn trên thực tế đối với việc giải quyết các tranh chấp tài sản bảo đảm tiền vay theo tinh thần Nghị quyết số 42/2017/QH14;
- Áp dụng cơ chế thu phí đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm hạn chế tình trạng đương sự gửi đơn tràn lan khi không có căn cứ pháp lý;
- Chấp nhận hình thức nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và tài liệu chứng cứ qua phương tiện điện tử (email, cổng thông tin điện tử) để chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xử lý đơn.
Kết quả và những đóng góp mới
Các kết quả và đóng góp mới của đề tài được tác giả tổng kết gồm 4 nội dung chính:
- Thứ nhất, đề xuất sửa đổi các quy định của pháp luật dân sự liên quan đến quan hệ bảo lãnh nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh; đặc biệt là cơ chế bảo vệ người nhận bảo đảm ngay tình, các quy định về biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh, điều kiện của bên bảo lãnh và phân định rõ nghĩa vụ thông báo, cung cấp thông tin của bên nhận bảo lãnh.
- Thứ hai, nhận diện và phân loại các dạng tranh chấp điển hình phát sinh từ thực tiễn giải quyết hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại TCTD (về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp hộ gia đình, vay nhờ - đứng tên giúp, phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh); từ đó đưa ra các khuyến nghị phòng ngừa rủi ro cho các bên trong quá trình soạn thảo, giao kết và thực hiện hợp đồng.
- Thứ ba, làm rõ cơ sở lý luận và sự cần thiết phải sửa đổi pháp luật tố tụng dân sự nhằm rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà vẫn bảo đảm chất lượng xét xử.
- Thứ tư, kiến nghị các giải pháp cụ thể trong công tác xử lý đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC, bao gồm: phân cấp lại thẩm quyền kháng nghị cho TAND cấp tỉnh đối với bản án cấp huyện, bãi bỏ quy định kéo dài thời hạn kháng nghị 05 năm, quy định thu phí xét đơn và tiếp nhận đơn bằng phương tiện điện tử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ bảo lãnh giữa TCTD trong nước với các tổ chức, cá nhân đối với khoản vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng; hoàn toàn không nghiên cứu nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng (bên bảo lãnh là ngân hàng) và các quan hệ bảo lãnh dân sự không nhằm mục đích sinh lời giữa các cá nhân. Về dữ liệu thực tiễn, nghiên cứu chỉ khảo sát các quyết định kháng nghị, giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC trong giai đoạn từ năm 2013 đến tháng 8 năm 2020, chưa bao quát toàn bộ các phán quyết của 3 Tòa án nhân dân cấp cao.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi và đánh giá thực tiễn khi thủ tục rút gọn theo Nghị quyết 42/2017/QH14 và Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP được triển khai trên thực tế giải quyết tranh chấp tài sản bảo lãnh nợ xấu;
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp đối với các hợp đồng bảo lãnh có yếu tố nước ngoài hoặc có sự tham gia của các định chế tài chính quốc tế;
- Đánh giá tác động của việc số hóa tố tụng và cơ chế thụ lý đơn điện tử đối với hiệu quả giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại nói chung tại TANDTC.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu có giá trị ứng dụng cho các nhóm chủ thể:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành luật: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu học thuật toàn diện về quá trình chuyển dịch của chế định bảo lãnh từ luật La Mã, luật Pháp, luật Hồng Đức, Dân luật Sài Gòn cho đến các BLDS 1995, 2005, 2015; phân biệt rạch ròi giữa bản chất đối nhân của bảo lãnh và biện pháp thế chấp tài sản của người thứ ba.
- Đối với Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và các cán bộ tiến hành tố tụng: Luận án là tài liệu tham khảo nghiệp vụ khi đánh giá các dạng sai phạm thường gặp trong việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm dẫn đến bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm (chữ ký giả mạo, đất hộ gia đình, phạm vi bảo lãnh tối đa, nghĩa vụ dự bị - liên đới).
- Đối với các cơ quan lập pháp và Hội đồng Thẩm phán TANDTC: Cung cấp luận cứ thực tiễn để xem xét sửa đổi BLDS, BLTTDS và ban hành các Nghị quyết hướng dẫn, phát triển án lệ liên quan đến bảo đảm nghĩa vụ và tố tụng rút gọn.
- Đối với các TCTD và luật sư doanh nghiệp: Giúp hoàn thiện quy trình thẩm định tài sản, soạn thảo điều khoản cam kết bảo lãnh, quy định rõ phạm vi bảo lãnh và cơ chế xử lý tài sản nhằm hạn chế rủi ro hợp đồng bị tuyên vô hiệu.
Câu hỏi thường gặp
-
Bản chất của biện pháp bảo lãnh tiền vay trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành là bảo đảm đối nhân hay đối vật?
Theo BLDS năm 2015, bảo lãnh được xác định mang bản chất đối nhân (bên bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh). Các quy định về "bảo lãnh bằng tài sản" trong BLDS năm 1995 đã được chuyển hóa thành biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba từ BLDS năm 2005. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 bổ sung quy định cho phép các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện chính nghĩa vụ bảo lãnh đó.
-
Qua khảo sát thực tế tại TANDTC, các vụ án tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm xuất phát từ căn cứ nào?
Khảo sát thực tiễn cho thấy 100% các vụ án có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm loại tranh chấp này đều có căn cứ từ sai lầm về mặt nội dung (Tòa án cấp dưới không đánh giá đúng chứng cứ, áp dụng sai quy định pháp luật dẫn đến xác định sai đường lối giải quyết, ảnh hưởng đến quyền lợi đương sự). Không có vụ án nào bị kháng nghị thuần túy do vi phạm về mặt thủ tục tố tụng.
-
Thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn để xử lý tranh chấp tài sản bảo đảm khoản nợ xấu tại Tòa án diễn ra như thế nào theo ghi nhận của luận án?
Mặc dù Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội và Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã quy định áp dụng thủ tục rút gọn cho loại việc này, nhưng tính đến thời điểm tháng 8 năm 2020, hệ thống Tòa án trên thực tế chưa thụ lý, giải quyết bất kỳ vụ án tranh chấp tài sản bảo đảm tiền vay tại TCTD nào theo thủ tục rút gọn do còn nhiều vướng mắc về điều kiện áp dụng và tính chất tranh chấp giữa các bên rất phức tạp.
-
Tác giả luận án đề xuất những giải pháp cơ bản nào để giảm áp lực tồn đọng đơn giám đốc thẩm, tái thẩm tại TANDTC?
Tác giả đề xuất: Giao lại thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của TAND cấp huyện cho Chánh án TAND cấp tỉnh; rút ngắn thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, bãi bỏ quy định kéo dài thời hạn kháng nghị lên 05 năm; áp dụng thu phí xét đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; và cho phép tiếp nhận đơn đề nghị qua phương tiện điện tử.
Kết luận
Luận án đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tiền vay tại tổ chức tín dụng thông qua hoạt động xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao. Bằng việc phân tích các phán quyết thực tế, tác giả làm rõ bản chất đối nhân của quan hệ bảo lãnh, nhận diện các dạng tranh chấp phổ biến và nguyên nhân dẫn đến các phán quyết bị hủy, sửa. Công trình đưa ra hệ thống kiến nghị đồng bộ nhằm hoàn thiện chế định bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự, sửa đổi thẩm quyền và thời hạn kháng nghị trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, đồng thời cải tiến quy trình xử lý đơn tại Tòa án nhân dân tối cao.