Chương 1 NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ GIÃI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC TÓ TỤNG DÂN sụ 1. Khái niệm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai hiểu theo nghĩa chung nhất là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Theo Từ điển tiếng Việt thì “tranh chấp” là giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào và đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giũa hai bên [63, tr.
Dưới góc độ này, tranh chấp đất đai là tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân hoặc giữa cá nhân và tô chức hoặc giữa tố chức và tồ chức (giữa các chủ thế tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai) với nhau về quyền sử dụng đất mà một trong các chủ thể cho ràng quyền sử dụng đất của mình bị bên kia vi phạm thì có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp buộc bên kia chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục lại tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại (nếu có) do hành vi vi phạm gây ra. Theo Giáo trình Luật Đất đai cùa trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khỉ tham gia vào quan hệ pháp Luật Đất đai” [64, tr. Tranh chấp đất đai bao gồm tranh chấp về chủ thể có quyền sử dụng đất, tranh chấp về các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy có sự tương đồng giữa hai thuật ngữ “Tranh chấp đất đai” và “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách nhìn của Giáo 8 trình Luật Đât đai của Trường Đại học Luật Hà Nội thì tranh châp đât đai là một thuật ngữ rộng hơn tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo Hiến pháp năm 1980 đến nay thì Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức sở hữu duy nhất về đất đai là sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hừu. Do đó, tranh chấp đất đai không phải là tranh chấp về sở hữu đất đai mà là tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức về quan hệ sử dụng đất đai. Luật Đất đai 1987 và Luật Đất đai 1993 không sử dụng thuật ngữ tranh chấp đất đai mà sử dụng thuật ngữ “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, tuy nhiên cả hai luật này không có phần giải thích thuật ngữ.
Khoản 7 Điều 25 BLTTDS năm 2004 quy định: Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì thuộc thấm quyền giải quyết của tòa án theo thú tục tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai 2003 quy định tranh chấp đất đai đà được hoà giải tại ƯBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự hòa giải không thành hoặc không nhất trí với kết quả hòa giải thì tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có GCNQSD đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do TAND giải quyết. Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước. là tài sản công thuộc sở hữu toàn dãn do Nhà nước đại diện chủ sớ hữu và thống nhất quản lý”.
Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định: “Tớ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đắt, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”. Trên cơ sở đó, khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013, đưa ra định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Ưỷ ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải 9 quyết như sau: “Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấỵ chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết. Như vậy, dưới góc độ quy định của pháp luật thì tranh chấp đất đai được hiểu là tranh chấp giữa các tô chức, cá nhân có quyền sử dụng đất nên bản chất của tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự là tranh chấp quyền sử dụng đất. Tranh chấp đất đai có thể là: (i) tranh chấp đất đai (trên đất không có tài sản); (ii) tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất. Tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự nên bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế.
Sự khác biệt đó thể hiện ở nhũng điểm chù yếu sau đây: Thứ nhất: Chủ thể của tranh chấp đất đai là chủ thể có quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất cua các chủ thế được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người sử dụng đất. Thứ hai: Nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp.
Hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt lớn, thường liên qua đến nhiều chú thể nên tranh chấp thường gay gẳt, số lượng người tham gia tranh chấp thường nhiều người. Thông thường các tranh chấp đất đai không phải là tranh chấp đơn lẻ mà thường đan xen lẫn nhau, có thể là tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất 10 nhưng lại liên quan đến chia tài sản chung cùa vợ chồng, hoặc hộ gia đình.
Ngoài ra, nhiều trường hợp tranh chấp đất đai phát sinh do ƯBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nhưng nguyên đơn cho rằng mình mới là người có quyền sử dụng đất. Do đó, khi khởi kiện yêu cầu tòa án xác định ai là người có quyền sử dụng đất, nguyên đơn thường yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất cho mình. Những lý do trên dẫn đến tranh chấp đất đai thường là các tranh chấp phức tạp, có giá trị lớn, gay gắt, kéo dài và thường trải qua nhiều cấp xét xử. TAứ ba: Tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vờ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trục tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của những người thân thích, chung sống trên diện tích đất, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Từ các phân tích nêu trên, có the đưa ra khái niệm tranh chấp đất đai như sau: Tranh chấp đất đai là mẫu thuẫn, xung đột phát sinh giữa các chủ thê tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thế mà họ không thể tự mình giải quyết các tranh chấp đó mà phải thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự Trước khi làm rõ khái niệm “giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự”, tác giả làm rõ khái niệm tố tụng dân sự. Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì tố tụng dân sự là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án và thi hành án dân sự [72, tr. Giáo trình Luật tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội cũng có quan điếm tương tự: "Trong khoa học pháp lý, trình tự do pháp luật quy định cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được gọi là tố tụng dân 11 sự " [65, tr.
Với quan niệm này thì tô tụng dân sự bao gôm cả trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, quan điềm khác lại cho rằng, tố tụng dân sự chỉ bao gồm trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại toà án mà không bao gồm thủ tục thi hành án dân sự. Tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhung các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng [49]. Với tên của đề tài luận văn, tác giả không luận giải về vấn đề thi hành án dân sự có phải là một giai đoạn của tố tụng dân sự hay không, mà chỉ nghiên cứu quá trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tại tòa án.