Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐÁT ĐAI BẰNG TÒA ÁN 1. Khái quát về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án 1. Khái niệm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án * Khái niệm tranh chấp đất đai K __ 9 • r e r ơ nước ta, hiện tượng TCĐĐ xảy ra phô biên, diên biên phức tạp, ảnh hưởng xâu đên công tác quản lý nhà nước vê đât đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội. Vậy khái niệm TCĐĐ được hiểu như thế nào? Theo giãi thích của Từ điên tiêng Việt thì tranh châp nói chung được hiểu là việc “Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” [29, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: 1. Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào. Bất đồng, trái ngược nhau” [32, tr. Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa được chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất.
Lần đầu tiên tại khoản 26 Điều 4 của Luật Đất đai 2003 đã định nghĩa “TCĐĐ là tranh chap về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giũa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai" [27, tr. Theo Luật đất đai 2013 thì: "TCĐĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [13, Khoản 24, Điều 3], 8 Theo khái niệm này, đôi tượng tranh châp trong TCĐĐ là quyên và nghĩa vụ của NSDĐ. Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của NSDĐ do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà NSDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng: chỉ bao gồm NSDĐ hay là tất câ các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cùa NSDĐ trong quan hệ TCĐĐ? Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể.
Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra định nghĩa về TCĐĐ như sau: “TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thê khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất í?ữz'”[30, tr. 135] Theo quan điểm này thì TCĐĐ là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng, trong đó: các chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp là các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai bao gồm Nhà nước và người sử dụng đất; đối tượng của TCĐĐ là tất cả những xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là Nhà nước và người sử dụng đất. “Quan hệ đất đai” được hiểu là quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong đó có cả các chủ thể là cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai [30, tr. Nếu hiểu một cách thuần túy tranh chấp đất đai là tranh chấp “giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” thì có nghĩa là sẽ có loại tranh chấp đất đai giữa cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai với người sừ dụng đất.
Điều này là hoàn toàn mâu thuẫn với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Bởi lẽ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý với tư cách đại diện chù sở hữu. Trong quá trình quản lý đó, Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng 9 đất, giao một phần diện tích đất cho các cơ quan, trong đó có UBND các cấp để làm trụ sở phục vụ hoạt động quản lý xã hội. NSDĐ, nếu không nhất trí với cơ quan UBND về việc quán lý, sử dụng đối với một diện tích đất cụ thể nào đó, chi có quyền đề nghị Nhà nuớc xem xét lại việc giao đất đó đã thực sự công bằng, hợp lý hay chưa, chứ không có quyền tranh chấp diện tích đất đó với cơ quan UBND.
Như vậy, định nghĩa tranh chấp đất đai theo LĐĐ năm 2003 và LĐĐ năm 2013 do có nội hàm rất rộng nên đã gây nhiều cách hiếu không chính xác. Hơn nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của NSDĐ cũng đã từng được quy định cụ thể trong một sổ văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là tranh chấp liên quan đến QSDĐ chứ không phải TCĐĐ một cách chung chung [27, tr. 45], Vì vậy, theo tôi, TCĐĐ, tự thân khái niệm đã nói lên nội hàm của khái niệm. Theo đó, TCĐĐ cần được hiểu là tranh chấp QSDĐ đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt động quản lý, sử dụng đất.
Các dạng tranh chấp khác đều được hiểu là tranh chấp liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi cơ quan Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Như vậy, nên hiểu TCĐĐ ở nước ta chính là tranh chấp QSDĐ đất hay bao gồm cả tranh QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, vì làm rõ khái niệm TCĐĐ có thể giúp xác định chính xác đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ, góp phần áp dụng pháp luật một cách chính xác và thống nhất, góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai, tránh được trường hợp quy định của luật này chồng chéo lên quy định của luật kia. Và thực tế hiện nay ngành tòa án vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến QSDĐ vào mục TCĐĐ nói chung. Từ những phân tích trên, TCĐĐ được hiểu bao gồm tranh chấp QSDĐ và tất cả các tranh chấp liên quan đến QSDĐ và trong điều kiện của nước ta hiện nay, cũng nên hiểu TCĐĐ chính là tranh chấp QSDĐ và các tranh chấp 10 khác liên quan đên QSDĐ thì phù hợp hơn.
Tóm lại: TCĐĐ là sự bãt đông, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thê tham gia vào quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. * Khái niệm giải quyết tranh chap đất đai bằng Tòa án Trong thực tiễn GQTCĐĐ, có thể hiểu đây là việc dùng những cách thức phù hợp, dựa trên cơ sở của pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định do hành vi cùa họ gây ra, góp phần tăng cường pháp chế trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Hay nói cách khác giãi quyết TCĐĐ là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật vào giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng cùa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất (NSDĐ). Thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” đã được đề cập trong nội dung của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013.
Mặc dù vậy, nội hàm của thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” lại không được giải mã rõ ràng. Và đến Luật đất đai 2013, thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” cũng chưa được giải thích rõ trong Luật. Dưới góc độ lí luận, thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” mới được giải thích cụ thể trong từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học (Phần Luật Đất đai, Luật Lao động, Tư pháp quốc tế) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999, như sau: “Giải quyết tranh chấp đất đai: Giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhãn dãn, tô chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai Như vậy, GQTCĐĐ được hiếu là một phương thức của con người nhằm tìm ra một giải pháp thích hợp giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân liên quan đến việc 11 quản lý và sử dụng đât. Giải quyêt TCĐĐ là một nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, giữa nhân dân với các tổ chức và giữa các tổ chức sử dụng đất với nhau để qua đó phục hồi các quyền lợi bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đổi với hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
Do vậy, có thể hiểu: Giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án là việc Tòa án nhân dân các cap áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng và nội dung đê giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể nảy sinh trong quả trình quán lý và sử dụng đất đai. Đặc điêm của tranh châp đât đai, giải quyêt tranh châp đât đai bằng Tòa án * Đặc điểm của tranh chấp đất đai TCĐĐ có những đặc điềm chung của các tranh chấp kinh tế, dân sự, đồng thời nó có những đặc điểm riêng có để phân biệt với các loại tranh chấp khác như: - về đối tượng tranh chấp: Dưới góc độ pháp lý thì đối tượng của TCĐĐ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của NSDĐ giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai; dưới góc độ kinh tế thì đổi tượng của TCĐĐ là tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chú thể trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Vì thế, đối tượng của TCĐĐ là quyền quản lý, quyền sử dụng và một số lợi ích vật chất khác phát sinh từ quyền quản lý, sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu toàn dân [2, tr. - Chủ thể của quan hệ TCĐĐ là chủ thể quản lý và sử dụng đất đai.
Các bên tham gia tranh chấp không phải là chủ sở hữu đối với đất đai.