Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển theo pháp luật quốc tế Chương 2: Pháp luật quốc tế về Cơ chế giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển và giải pháp giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam và các nước. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ TRÊN BIỂN THEO LUẬT QUỐC TẾ 1. Khái quát chung về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển 1.
Khái niệm về tranh chấp quốc tế Tranh chấp quốc tế được hiểu là ít nhất có hai quốc gia với tư cách là chủ thể trong quan hệ tranh chấp đang có những xung đột và mâu thuẫn ý chí về những vấn đề liên quan đến thẩm quyền của quốc gia đó và những điều này đang tồn tại mà chưa giải quyết được. Do đó, tranh chấp quốc tế với nghĩa rộng khi đặt trong quan hệ lợi ích sẽ được hiểu là những mâu thuẫn về lợi ích chưa được điều hòa giữa những chủ thể của luật quốc tế. Trên thực tế, các tranh chấp quốc tế đã và đang xuất hiện hàng ngày xung quanh mối quan hệ giữa các quốc gia. Tuy chủ thể của luật quốc tế đã nhận thức được những tác động tiêu cực của nó nhưng hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất nào về tranh chấp quốc tế trong các văn bản pháp lý.
Căn cứ vào thực tiễn thì tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia vào quan hệ quốc tế có những quan điểm pháp lý và quyền lợi mâu thuẫn với nhau. Như vậy, một tranh chấp quốc tế sẽ phát sinh khi xuất hiện các xung đột giữa các bên trong luật quốc tế về quyền và quan điểm pháp lý liên quan tới đối tượng tranh chấp. Tranh chấp sẽ chấm dứt khi sự xung đột này không còn tồn tại. Ngoài ra, tranh chấp quốc tế còn được khái quát là những vấn đề phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế thể hiện những bất đồng xung đột về những vấn đề cơ bản của Luật quốc tế cũng như các ý kiến, quan điểm khác nhau trong việc giải thích và áp dụng các quy định pháp luật quốc tế.
Các chủ thể của tranh chấp quốc tế là chủ thể của luật quốc tế bao gồm các quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức quốc tế liên chính phủ (Tổ chức ASEAN, EU, WTO.) và các chủ thể đặc biệt khác (Vatican, Công quốc Monaco…) trong đó các quốc gia là chủ thể cơ bản của tranh chấp quốc tế. Xung đột giữa các chủ thể khác của luật quốc tế không thể là tranh chấp quốc tế. Do đó cần tránh nhầm lẫn tranh chấp quốc tế với các tranh chấp khác. Căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau mà có thể phân loại tranh chấp quốc tế.
Nếu căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia thì bao gồm tranh chấp song phương và tranh chấp đa phương. Nếu căn cứ vào tính chất của vụ tranh chấp thì gồm tranh chấp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang tính chính trị và tranh chấp có tính pháp lý. Nếu căn cứ vào đối tượng tranh chấp thì gồm tranh chấp về kinh tế, tranh chấp về lợi ích. Khái niệm chủ quyền trên biển của quốc gia 1.
Chủ quyền quốc gia Chủ quyền của quốc gia gồm 2 nội dung: Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định, các quốc gia khác, cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp, mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nếu điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết không có quy định khác. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện: - Tự tuyết định mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp hoặc áp đặt; không có một thế lực nào, cơ quan nào đứng trên quốc gia, có quyền đặt ra pháp luật và bắt buộc quốc gia phải thực hiện.
- Quốc gia chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, các quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia, đồng thời tôn trọng các tập quán quốc tế cũng như các điều ước quốc tế do các quốc gia khác ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Hai nội dung của chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại đối với nhau. Nếu không có quyền lực tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình, thì quốc gia không thể độc lập trong quan hệ quốc tế và ngược lại. Trong điều kiện quá trình quốc tế hóa mọi mặt của đời sống xã hội phát triển rất nhanh chóng, sự tùy thuộc giữa các quốc gia ngày càng tăng, nội dung chủ quyền quốc gia thì vẫn không thay đổi, bản thân chủ quyền quốc gia không mất đi.
Các quốc gia vẫn là những thực thể độc lập, có chủ quyền, quốc gia vẫn thực hiện quyền lực tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình và độc lập với các quốc gia khác trên cơ sở bình đẳng trong mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau. Chủ quyền lãnh thổ của quốc gia trên biển. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền của mình một cách tuyệt đối, đầy đủ, toàn vẹn ở trong vùng nội thủy và thực hiện chủ quyền một cách đầy đủ, toàn vẹn ở trong lãnh hải và các đảo của mình. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều 9 Luật Biển Việt Nam quy định “Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên đất liền”[26] Điều 12 Luật Biển Việt Nam quy định “Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của LHQ về Luật biển 1982”[26] Điều 19, Điều 20 và Điều 21 Luật Biển Việt Nam quy định về đảo, quần đảo và chế độ pháp lý của đảo, quần đảo Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.
Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau. Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.[26] Nhà nước thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam. Chế độ pháp lý đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này. Công ước Luật biển 1982 quy định các quốc gia ven biển có chủ quyền tuyệt đối với nội thủy và lãnh hải của mình, chủ quyền này cũng được mở rộng vùng trời ở bên trên đến vùng đáy biển ở bên dưới các vùng biển đó.
Điều 8, khoản 1 Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 định nghĩa nội thủy là “các vùng nước ở phía bên trên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”[4]. Trong vùng nội thủy, các quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền của mình. Tàu thuyền nước ngoài muốn ra vào nội thủy phải xin phép quốc gia ven biển và phải tuân theo luật lệ quốc gia đó. Lãnh hải hay còn gọi là “Vùng nước lãnh thổ”[4] là một dải biển ven bờ năm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ đất liền hoặc nội thủy của quốc gia ven biển, có chiều rộng nhất định được tính từ đường cơ sở của quốc gia đó và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển.
Chủ quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng trời trên lãnh hải, cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Tuy nhiên, do yêu cầu, tính chất truyền thống của hàng hải quốc tế, luật pháp quốc tế trù định quyền của mọi loại tàu, thuyền của tất cả các quốc gia được đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển với điều kiện không gây ảnh hưởng đến hòa bình, trật tự, an ninh và môi trường của quốc gia ven biển. Cần luu ý là quyền đi qua không gây hại không áp dụng đối 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với vùng trời trên lãnh hải. Phương tiện bay nước ngoài muốn bay qua vùng trời trên lãnh hải của một nước ven biển phải xin phép nước ven biển đó.
Đối với quốc gia quần đảo, lãnh hải nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ và vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo đó. Đối với các đảo riêng biệt, đáp ứng đúng định nghĩa đảo nêu trong pháp luật quốc tế (Điều 121, UNCLOS về Luật biển 1982) thuộc về một quốc gia ven biển, nhưng nằm ngoài lãnh hải chung của quốc gia đó, thì lãnh hải của từng đảo này cũng được xác định như trên. Đa số các quốc gia trên thế giới quy định chiều rộng lãnh hải từ 3-12 hải lý. UNCLOS 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của quốc gia ven biển không quá 12 hải lý, kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng công ước.
Ngoài ra chủ quyền của quốc gia trên biển còn bao gồm quyền chủ quyền và quyền tài phán. Quyền chủ quyền là quyền của các quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió….