Chương 1: Tổng quan lí luận về Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế. Chương 2: Áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trên Biển Đông. Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu lực của việc áp dụng Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế ở Biển Đông. Đây là một đề tài khó, rộng và phức tạp, trong khi kiến thức của tác giả còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong các thầy cô giúp đỡ, chỉ dạy để tác giả hoàn thiện thêm đề tài của mình. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ 1.1 Sơ lƣợc về giải quyết tranh chấp quốc tế 1. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về tranh chấp quốc tế trong các văn bản pháp lý. Theo Cuốn Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1992 giải thích về “tranh chấp” là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên.
Theo quan niệm của Pháp viện Thường trực quốc tế - Cơ quan giải quyết tranh chấp của Hội Quốc liên (Tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc) lại cho rằng: Tranh chấp là sự bất đồng về một quy phạm pháp luật hoặc một sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định (trường hợp này là giữa các quốc gia) khi một trong các bên đưa ra yêu sách, đòi hỏi đối với bên kí nhưng bên đó không chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một phần. Theo Giáo trình Luật quốc tế của Ấn độ, Tiến sỹ S.Kapoor chủ biên tái xuất bản năm 1994 giải thích khái niệm về tranh chấp quốc tế: là sự tranh chấp giữa các quốc gia. Trường hợp có hành vi sai trái với một dân tộc hay với một quốc gia nào đó nhưng nếu Chính phủ của quốc gia đó không có hành động phản ứng lại thì cũng không được coi đó là tranh chấp quốc tế. - Sự tranh chấp phải xảy ra những hành vi cụ thể từ phía quốc gia gây sự.
- Sự tranh chấp phải liên quan đến các đối tượng tranh chấp cụ thể của quốc gia bị hại. Giáo trình Công pháp quốc tế của Mỹ năm 1990 có ghi: Việc giải quyết các tranh chấp quốc tế là việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia.[33] Căn cứ vào thực tiễn của pháp luật quốc tế hiện nay, có thể hiểu một cách chung nhất về tranh chấp quốc tế như sau: “Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn với nhau, và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau. Đó là sự không thỏa thuận được với nhau về quyền hoặc sự kiện, đưa đến sự mâu thuẫn, đối lập nhau về quan điểm pháp lý hoặc quyền giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau”. Căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, có thể phân loại tranh chấp quốc tế như sau: - Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia: bao gồm tranh chấp song phương và tranh chấp đa phương.
- Căn cứ vào tính chất của vụ tranh chấp: tranh chấp mang tính chất chính trị và tranh chấp có tính pháp lý. - Căn cứ vào đối tượng tranh chấp: tranh chấp về kinh tế về thực hiện nghĩa vụ thành viên về điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế… Như vậy, tranh chấp quốc tế có nhiều loại. Tuy nhiên, chúng ta cần quan tâm đến những tranh chấp quốc tế có tính chất nguy cơ ảnh hưởng đến hòa bình an ninh khu vực và thế giới. Các tranh chấp là mối đe dọa tới sự sống còn của nhân loại và bị luật quốc tế cấm.
Tranh chấp quốc tế luôn được coi là vấn đề nhạy cảm đối với các quốc gia, đối với giới cầm quyền ở mỗi quốc gia. Bởi vậy, các tổ chức lớn tầm cỡ quốc tế “có tiếng nói” như Liên Hợp quốc cần tập hợp sức mạnh tổng hợp cũng như chú trọng tới việc dự liệu trước, đề xuất các quy định, các nguyên tắc trong luật pháp quốc tế để ngăn cản trước khi xảy ra, cũng như tìm giải pháp để chấm dứt các tranh chấp đã xảy ra.2 Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp quốc tế cơ bản xuyên suốt trong luật quốc tế Các phương pháp bạo lực (chiến tranh) trong quan hệ quốc tế giữa các nước giai đoạn trước đây là phương pháp hay được đề cập. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước khi Hiệp ước Hòa bình Briand-Kellogg 1928 ra đời, trong quan hệ quốc tế việc dùng vũ lực hay chiến tranh được coi là biện pháp hợp pháp để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia. Xâm lược một quốc gia độc lập chủ quyền hay xâm chiếm một bộ phận lãnh thổ của nước khác, luật quốc tế cổ điển gọi là “can thiệp – Intervention”.
Khi đó, sẽ sử dụng lực lượng vũ trang đánh xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác và có thể hiểu là đánh chiếm và xóa bỏ một quốc gia.110] Sau khi Hiệp ước Hòa bình Briand-Kellogg 1928 và Hiến chương Liên hợp quốc ra đời, những chế định liên quan đến sử dụng vũ lực đã được thay đổi đáng kể và bị cấm trong luật quốc tế. Thời kì sau đó, trong luật quốc tế đã xuất hiện hai khái niệm về chiến tranh: chiến tranh chính nghĩa (just wars - được luật pháp quốc tế cho phép và ủng hộ) và chiến tranh phi nghĩa (unjust wars - được coi là ngoài vòng pháp luật). Khi chiến tranh xảy ra giữa hai quốc gia, các bên thứ ba luôn muốn tránh tham gia chiến tranh với các bên và muốn giữ quan hệ với tất cả các bên tham chiến mà không nhất thiết cần đưa ra ý kiến xem chiến tranh nào là chính nghĩa.873-874] Trên thực tế, các quốc gia cùng tuân theo quy định của luật quốc tế về hòa bình nhưng nếu biết lợi ích quốc gia mình có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng, họ sẽ nghĩ đến hành động sử dụng bạo lực hay nói cách khác là dùng chiến tranh để đảm bảo lợi ích của mình và thành lập những nguyên tắc mới cho những quan hệ quốc tế mới. Trong khoản 3, Điều 2, Hiến chương Liên Hợp quốc có quy định: “Tất cả các nước thành viên Liên Hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý”.
Khoản 4, điều 2, của Hiến chương Liên Hợp quốc có ghi: “Tất cả các nước thành viên Liên Hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên Hợp quốc”. Như vậy, Hiến chương chỉ đề cập đến việc cấm đe dọa hay sử dụng vũ lực mà không đề cập cụ thể đến những khái niệm như “chiến tranh” hay “xâm lược”. Điều 51 Hiến chương Liên Hợp quốc lại ghi: “không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên Hợp quốc bị tấn công vũ trang…” Có thể hiểu rằng, nội dung điều 51 trên cho phép các nước thành viên Liên Hợp quốc được quyền tự vệ cá nhân hay tự vệ tập thể chính đáng nếu bị tấn công vũ trang. Trên thực tế, các quan hệ quốc tế cho thấy: pháp luật quốc tế hiện nay vừa cấm việc dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế lại vừa cho phép việc dùng vũ lực.
Có những trường hợp luật quốc tế, Hiến chương Liên Hợp quốc và cả Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc cho phép sử dụng một số biện pháp dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế hay để duy trì hòa bình an ninh quốc tế, như sau: - Tự vệ cá nhân và tự vệ tập thể; - Cấm vận, trả đũa dưới sự cho phép của Liên Hợp quốc; - Can thiệp (quân sự) vì mục đích nhân đạo; - Can thiệp (quân sự) vì mục đích khôi phục dân chủ; - Can thiệp (quân sự) vì mục đích khôi phục nhân quyền. Thời gian gần đây, lịch sử quan hệ quốc tế ghi nhận nhiều thành công của việc áp dụng các phương pháp hòa bình vào giải quyết tranh chấp quốc tế. Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc này gắn liền với sự hình thành và phát triển của nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn tiềm ẩn, phát sinh từ các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mối quan hệ giữa các quốc gia.
Đó là khi các chủ thể luật quốc tế có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn xung đột hoặc không thống nhất được về quyền và lợi ích. Hệ thống Công ước Lahay năm 1899 và năm 1907 có Công ước về hòa bình giải quyết xung đột quốc tế, là công ước đa phương đầu tiên đề cập đến vấn đề quan trọng này. Tuy nhiên, Công ước mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra lời kêu gọi các quốc gia tự nguyện thực hiện các biện pháp trung gian, hòa giải trước khi dùng vũ lực. Trong quy chế Hội quốc liên có đưa ra quyền của các quốc gia dùng chiến tranh như là phương tiện giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên có đề cập đến nghĩa vụ của các quốc gia trong giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình nhưng quy định này không được đem ra giải quyết ở Tòa án hoặc đưa ra Hội đồng của Hội quốc liên với tính chất là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của mọi quốc gia. Và việc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình chỉ được coi như một khả năng có thể xảy ra khi có tranh chấp mà thôi. Liên hợp quốc cùng với bản Hiến chương của mình lần đầu tiên đã nâng vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế lên thành nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia; Khoản 3, điều 2 Hiến chương ghi nhận "Hội viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng phương pháp hòa bình, làm thế nào khỏi nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế cũng như đến công lý".