Chương 1 TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN THEO PHƢƠNG THỨC PHI TÀI PHÁN 1. Tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp quốc tế trên biển 1. Khái niệm về tranh chấp quốc tế, tranh chấp quốc tế trên biển Tranh chấp là hiện tượng thường xuyên, phổ biến trong đời sống xã hội nói chung và đời sống quốc tế nói riêng. Trong phán quyết ngày 30/8/1924 giải quyết tranh chấp giữa Hi Lạp và Vương Quốc Anh về vụ chuyển nhượng Mavromatis Palestine, Tòa án thường trực công lý quốc tế xác định tranh chấp: là bất đồng một vấn đề của luật pháp hoặc của thực tiễn, hay là một xung đột về quan điểm pháp lý hoặc về lợi ích của hai chủ thể [68].
Theo từ điển Black‟s Law thì “Tranh chấp là một cuộc xung đột hay tranh cãi, đặc biệt một trong những xung đột hay tranh chấp đó có thể trở thành một vụ kiện cụ thể” [69, pp. Trong thực tế “tranh chấp quốc tế” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tranh chấp quốc tế bao hàm không chỉ tranh chấp mà cả các trạng thái, tình thế xung đột giữa các chủ thể của luật quốc tế, mà chủ yếu là các quốc gia. Theo nghĩa hẹp thì tranh chấp quốc tế chỉ bao gồm các quan hệ xung đột giữa các chủ thể của luật quốc tế được biểu hiện qua các bên tham gia cụ thể của luật quốc tế được biểu hiện qua các bên tham gia cụ thể đối với các đối tượng tranh chấp nhất định.
Ở đây, chủ thể của một tranh chấp mang tính chất quốc tế thể hiện ở việc các bên tham gia tranh chấp là những quốc gia hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế. Việc giải quyết tranh chấp này phải dựa trên pháp luật quốc tế, theo một cơ chế hay bởi một cơ quan tài phán có tính chất quốc tế. Trong Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuật ngữ giải quyết tranh chấp được đề cập đến ở khá nhiều điều khoản. Theo Điều 279 Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982: “các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bình…” thì có thể hiểu tranh chấp quốc tế trên biển là tranh chấp, mâu thuẫn xung đột giữa các quốc gia về những vấn đề liên quan tới việc giải thích hay áp dụng Công ước, cụ thể hơn, đó là sự mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các quốc gia liên quan tới vấn đề phân định chế độ pháp lý các vùng biển - đảo, việc phân chia, sử dụng và khai thác biển cả và đại dương cũng như các nguồn tài nguyên của chúng.
Đồng thời Công ước cũng dành riêng phần XV, bao gồm 21 điều quy định cụ thể về nguyên tắc, biện pháp, thiết chế, trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp. Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về giải quyết tranh chấp nhưng các quy định tại Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 cho thấy Công ước tuân thủ nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp của luật quốc tế. Vì vậy, có thể hiểu việc giải quyết tranh chấp trong Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 bao gồm tổng thể các nguyên tắc, cách thức, thủ tục, phương tiện và thiết chế pháp lý, có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, được thiết lập để điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc giải quyết xung đột, mâu thuẫn phát sinh trong quá trình giải thích, áp dụng các quy định của Công ước này. Các tranh chấp quốc tế trên biển Tính tới thời điểm hiện tại, có nhiều tranh chấp quốc tế trên biển tuy nhiên tranh chấp phức tạp và kéo dài thường rơi vào những loại tranh chấp sau: Thứ nhất là tranh chấp chủ quyền trên biển Chủ quyền quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ quyền làm chủ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập được thể hiện trên mọi 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương diện như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt, cả lập pháp, hiến pháp lẫn tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó.
Lãnh thổ quốc gia bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng lòng đất, vùng trời. Theo Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, vùng nước nội thủy và vùng nước lãnh hải thuộc lãnh thổ quốc gia. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển là tình trạng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ thường được tạo nên bởi một hoặc một số quốc gia đã lợi dụng cơ hội và sử dụng vũ lực để chiếm đóng một phần hay toàn bộ quần đảo thuộc chủ quyền của quốc gia khác. Thứ hai là tranh chấp về quyền chủ quyền và quyền tài phán Quyền chủ là quyền xuất phát từ chủ quyền, ở các vùng biển đặc thù như vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa, các quốc gia không có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ mà chỉ có các quyền liên quan đến chủ quyền và quyền tài phán.
Quyền chủ quyền thường thể hiện ở quyền thăm dò, khai thác, sử dụng, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Quyền tài phán là quyền liên quan đến thẩm quyền tác động đến con người, tài sản, tổ chức - quyền quản lý nhà nước đối với các hoạt động của các chủ thể trong một khu vực lãnh thổ hoặc vùng biển nhất định. Theo Điều 56 Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì quyền tài phán được chia theo lĩnh vực hoạt động như: lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị công trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Các tranh chấp biển về chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển nảy sinh khi có sự bất đồng về cách giải thích và áp dụng các quy định của luật biển quốc tế, đặc biệt là các quy định trong Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Tại vùng tiếp giáp mà thực chất là một phần của vùng đặc quyền kinh tế, theo Điều 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 33 Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982: các quốc gia ven biển có một số thẩm quyền về thuế, vệ sinh dịch tễ và nhập cư. Còn ở vùng thềm lục địa, các quốc gia ven biển có một số quyền chủ quyền độc quyền trong việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình (Điều 77 Công ước). Đây là đặc quyền mà các nước không được thực hiện nếu không có sự chấp nhận một cách rõ ràng của quốc gia ven biển. Hiện nay, trên thế giới còn khoảng 416 tranh chấp về ranh giới biển, thềm lục địa cần được hoạch định, trong đó khu vực Đông Nam Á có khoảng 15 tranh chấp [45].
Cơ sở pháp lý quốc tế giải quyết tranh chấp trên biển 1. Điều ước quốc tế Theo Điều 2 Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế: Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc hai trong nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì [22, tr. Khoản 1 Điều 2 Luật Ký kết, gia nhập Điều ước quốc tế của Việt Nam quy định: Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác [22, tr. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế (có thể là Điều ước đa phương hoặc song phương), do các quốc gia và chủ thể của Luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là quy phạm điều ước.
Khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế đã ghi nhận điều ước quốc tế là nguồn áp dụng đầu tiên để giải quyết các tranh chấp và đây là một nguồn cơ bản của luật quốc tế. Cơ sở lý luận của việc áp dụng các điều ước quốc tế (điều ước quốc tế đa phương và song phương) trong chứng minh chủ quyền quốc gia đối với biển, đảo chính là xuất phát từ những quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế và xuất phát từ bản chất, đặc trưng cơ bản của Điều ước quốc tế. Có thể kể đến những điều ước quốc tế làm cở sở giải quyết tranh chấp trên biển Đông theo phương thức phi tài phán như: Một là, Công ước về Luật Biển năm 1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương; khi liên quan đến các tranh chấp có thể nảy sinh giữa các thành viên, đòi hỏi các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình theo đúng quy định của Hiến chương Liên Hợp quốc. Hai là, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC).
Ở tuyên bố này các bên khẳng định lại cam kết đối với những mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Luật Biển 1982, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á. Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của luật pháp quốc tế, là những quy tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia. Các bên liên quan cam kết giải quyết những tranh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chấp lãnh thổ và quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực.