Chương 1. Giải quyết hậu quả về quan hệ nhân thân, quyền lợi con chung liên quan đến việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Chương 2: Giải quyết hậu quả về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng liên quan đến việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VỀ QUAN HỆ NHÂN THÂN, QUYỀN LỢI CON CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NAM, NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Kết hôn là một sự kiện pháp lý được pháp luật công nhận mối quan hệ giữa nam và nữ với tư cách là vợ chồng, có các quyền và nghĩa vụ luật định.
Việc kết hôn chỉ có hiệu lực pháp lý khi được thực hiện theo thủ tục tại cơ quan nhà nước có 1 thẩm quyền khi đáp ứng các điều kiện về kết hôn. Nếu không đáp ứng nội dung này, quan hệ giữa nam và nữ sẽ không được pháp luật bảo vệ một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất như quan hệ vợ chồng hợp pháp về mặt nhân thân và tài sản. Đối với quan hệ về nhân thân, các vấn đề phát sinh khi các bên không đăng ký kết hôn cũng khá phức tạp, đặc biệt là về con chung. Pháp luật có sự dự liệu đối với một số trường hợp nhưng không thể điều chỉnh hết được tất cả nội dung.
Do đó, chương này sẽ phân tích các vấn đề pháp lý, thực tiễn việc giải quyết hậu quả về nhân thân cũng như giải quyết quyền lợi của con chung liên quan đến việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Giải quyết về quan hệ nhân thân Khoản 7 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Việc chung sống này chưa được các bên tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ “như” cho thấy rằng, nam và nữ chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó, họ chỉ trên thực tế có sự chung sống với nhau, có mối quan hệ như vợ chồng mà chưa được pháp luật ghi nhận.
2 Trong lịch sử, vấn đề này được công nhận khi có nghi lễ nhất định nhưng ngày nay, quan hệ vợ chồng chỉ được xác lập khi có sự đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trước đây, Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TAND-VKS-BTP có quy định về trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp: (i) Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; (ii) Việc họ về 1 Khoản 2 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014. 2 Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2012), Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, NXB. Tổng hợp TP.
9 chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận; (iii) Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; (iv) Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Tuy nhiên, sự ghi nhận này chỉ là nhằm mục đích để đảm bảo đủ điều kiện cho các bên tiến hành đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2001 đến 01/01/2003 nhằm đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của nam và nữ trong quan hệ vợ chồng hợp pháp. Song, đây cũng có thể được xem là một trong những trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đó là đáp ứng các điều kiện kết hôn nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn. Trường hợp thứ hai về việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng đó là khi nam, nữ không đảm bảo điều kiện kết hôn, chẳng hạn về độ tuổi hay về năng lực hành vi và không thể đăng ký kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau.
Cả hai trường hợp có thể thấy, dấu hiệu dễ nhận biết nhất là không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Việc không đảm bảo yếu tố về mặt pháp lý đã dẫn đến các hệ quả nhất định. Về vấn đề nhân thân, khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Nếu như trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Như vậy, Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ dành cho trường hợp đầu tiên là các bên đủ điều kiện kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Khi đó, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng không phát sinh. Nếu các bên muốn xác lập quan hệ vợ chồng thì giá trị pháp lý tính từ thời điểm đăng ký kết hôn. Pháp luật không công nhận mối quan hệ về hôn nhân khi nam, nữ chỉ có hành vi thực tế là chung sống với nhau dù có đáp ứng điều kiện kết hôn hay các vấn đề khác như có con chung hay tài sản chung … Đây là nguyên tắc chung thống nhất để đảm bảo tránh các tranh chấp phức tạp trên thực tế, tạo hành lang pháp lý vững chắc quản lý quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, hỗ trợ các chế định pháp lý khác như đại diện, thừa kế, … Đối với trường hợp thứ hai là khi nam và nữ không đủ điều kiện kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng, chẳng hạn như nam, nữ chưa đủ tuổi 10 để kết hôn hay có mối quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời, pháp luật 3 HN&GĐ ghi nhận đây là việc kết hôn trái pháp luật.
Khi đó, quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ cũng không được pháp luật thừa nhận, điều này có nghĩa, quyền và nghĩa vụ các bên cũng không phát sinh. Hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng và có thể bị hủy kết hôn trái pháp luật. Luật HN&GĐ không dành cơ hội cho các bên trong việc đăng ký kết hôn để được công nhận quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm đó. Như vậy, theo nguyên tắc chung của pháp luật HN&GĐ, việc nam, nữ chung sống như vợ chồng, về mặt nhân thân sẽ được giải quyết theo hai trường hợp: (i) Nam và nữ đủ điều kiện đăng ký kết hôn: Nếu các bên tiến hành đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn, trước đó 4 thì pháp luật không ghi nhận.
(ii) Nam và nữ không đủ điều kiện kết hôn: Mối quan hệ trước đó sẽ được xem là không hợp pháp. Việc được đăng ký kết hôn của hai bên cũng sẽ không được ghi nhận do không thỏa mãn yêu cầu về điều kiện kết hôn. Khi không được pháp luật ghi nhận phát sinh mối quan hệ vợ chồng, các quyền và nghĩa vụ trong cuộc sống hôn nhân cũng không trở thành ràng buộc pháp lý, chế định như đại diện hay thừa kế giữa vợ và chồng cũng đương nhiên không 5 được chấp nhận. Việc giải quyết hệ quả trên chỉ áp dụng đối với mối quan hệ giữa nam và nữ.
Trong quan hệ giữa những người có cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng thì không được nhắc đến bởi pháp luật không thừa nhận mối quan hệ này. Nguyên tắc này vẫn tồn tại ngoại lệ, đó là các trường hợp hôn nhân thực tế, tuy nhiên, đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện nhất định về mối quan hệ và về thời gian áp dụng. Hôn nhân thực tế là trường hợp nam, nữ trở thành vợ thành chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo Luật HN&GĐ, đồng thời việc chung sống như 3 Khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014. 4 Trừ trường hợp được công nhận là hôn nhân thực tế.
5Lê Thu Trang (2016), “Quyền lợi của các bên chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mà xin ly hôn”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số (4 (289), tr. 11 6 vợ chồng đó không trái với điều kiện kết hôn và cấm kết hôn. Đây là phần nhỏ của nội hàm sống chung như vợ chồng. Hôn nhân thực tế chỉ được Nhà nước công nhận khi đáp ứng các điều kiện nhằm thỏa mãn các yếu tố về lịch sử, tình hình đất nước trước đây.
Theo đó, Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 quy định: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn”. Như vậy, điều kiện thứ nhất là về mặt thời gian, việc sống chung như vợ chồng phải được xác lập trước ngày 03/01/1987. Thứ hai, cả nam và nữ phải đảm bảo yếu tố về điều kiện kết hôn và thực tế chung sống với nhau như mối quan hệ vợ chồng thực sự.
Khi đó, nếu hai bên có ly hôn thì Tòa án vẫn thụ lý và áp dụng Luật HN&GĐ để giải quyết theo thủ tục như những cặp vợ chồng khác, tức Nhà nước thừa nhận mối quan hệ này. Mặt khác, nếu sau đó họ đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân vẫn được xác lập từ thời điểm họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 44 NĐ số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 cũng có quy định “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng.
Thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật Hộ tịch”.