Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò ADPL trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện 1. Khái niệm vụ án HN&GĐ Hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà. Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày. Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật HN&GĐ Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững, khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích: "Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [48, tr.
Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau. Gia đình xã hội chủ nghĩa là hình thái cao nhất trong lịch sử, chế độ xã hội chủ nghĩa quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình xã hội chủ nghĩa.
Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, khoản 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau" [48, tr. Như vậy, gia đình có thể gồm: vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ, ông bà…, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. Trong quá trình chung sống phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. HN&GĐ là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học.
Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng: HN&GĐ là phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước" (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: Chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Bằng tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về hình thái HN&GĐ trong lịch sử. Luật HN&GĐ năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc kết hôn, ly hôn, nuôi dưỡng.
Như vậy, có thể thấy HN&GĐ là lĩnh vực rất phức tạp, liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều thế hệ, nhiều mối quan hệ (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái). Khi trong gia đình phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về một hay các mối quan hệ liên quan đến hôn nhân (tình cảm, con chung, tài sản chung.), mà các thành viên trong gia đình không thể tự thỏa thuận giải quyết, dẫn đến tranh chấp phải khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Vụ việc liên quan đến HN&GĐ được Tòa án tiến hành giải quyết theo trình tự pháp luật tố tụng dân sự thì được gọi là vụ án về HN&GĐ. Từ phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Vụ án HN&GĐ là thuật ngữ chung dành để chỉ những tranh chấp giữa các đương sự liên quan đến lĩnh vực 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com HN&GĐ, được Tòa án xem xét giải quyết theo trình tự và thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Khái niệm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét xử. Các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án, Điều 127, Hiến pháp 1992 đã quy định: "TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [39, tr. Trên cơ sở Hiến pháp, Điều 1, Luật Tổ chức TAND quy định về chức năng xét xử của Tòa án: "Tòa án xét xử những vụ án về hình sự, dân sự, HN&GĐ, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" [49, tr.
Trong quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án phải ADPL. Đối với các vụ án HN&GĐ, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự không tự mình giải quyết được thì theo quy định của pháp luật, đương sự có quyền gửi đơn đến TAND cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định của BLTTDS năm 2004 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2011, khi nhận được đơn khởi kiện, TAND phải ADPL xem xét nếu thấy đủ điều kiện thụ lý thì thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự, thủ tục được Bộ luật tố tụng quy định. Quá trình đó bắt đầu từ khi thụ lý vụ án đến khi ra quyết định hoặc bản án buộc các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như tự nguyện thi hành hoặc có sự cưỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự.
Theo quy định của BLTTDS hiện hành thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu trong việc áp dụng các QPPL để giải quyết các vụ án dân sự nói chung, vụ án HN&GĐ nói riêng. Ngoài ra còn có sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Đồng thời tham gia phiên tòa đối với những vụ án theo quy định Viện Kiểm sát phải tham gia (Điều 21 BLTTDS hiện hành), như những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ,. Như vậy, có thể hiểu: ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ là hoạt động thực hiện pháp luật đặc thù, trong đó Tòa án thông qua hoạt động của Thẩm phán (trong trường hợp giải quyết vụ án không phải mở phiên tòa xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử) căn cứ vào các quy định của pháp luật HN&GĐ, các quy định khác của pháp luật để ra một quyết định cá biệt hoặc một bản án làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật về HN&GĐ.
Đặc điểm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND mang đầy đủ đặc điểm ADPL nói chung. Tuy nhiên, do tính chất riêng biệt của các quan hệ HN&GĐ cùng với trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án HN&GĐ của pháp luật tố tụng dân sự, nên ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ có những đặc điểm riêng như sau: - Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ADPL để giải quyết các vụ án HN&GĐ. Điều 44 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định: TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án theo quy định pháp luật tố tụng. Điều 27 của Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện hành của Việt Nam quy định những tranh chấp về HN&GĐ sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: 1.
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; 2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; 3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; 4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; 5.
Tranh chấp về cấp dưỡng; 6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. Điều 33 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định: Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình.; yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình. Từ những quy định nêu trên thấy TAND cấp huyện có đầy đủ thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm các vụ án HN&GĐ, trừ những vụ án thuộc thẩm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền của TAND cấp tỉnh.
TAND cấp tỉnh có Tòa Dân sự giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án HN&GĐ; Ủy ban thẩm phán xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực bị kháng nghị.