CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quá về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm nợ xấu Nợ xấu được hiểu là những khoản nợ bị vỡ nợ hoặc trong tình trạng gần kề vỡ nợ. Nhiều khoản nợ trở thành nợ xấu sau khi vỡ nợ 90 ngày.
Theo Peter Rose, nợ xấu là những khoản nợ không còn thu nhập lãi tích lũy, hoặc phải tái cơ cấu để phù hợp với hoàn cảnh thay đổi của người đi vay. Nợ được xếp vào loại này khi bất cứ khoản trả nợ theo lịch trình bị quá hạn hơn 90 ngày. Khi đó, bất cứ khoản tiền lãi tích lũy theo sổ sách phải được giảm trừ khỏi thu nhập từ cho vay. Các ngân hàng bị cấm ghi nhận bất cứ khoản thu nhập từ lãi bổ sung từ nợ này cho đến khi có dòng thu tiền mặt.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ" (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundnees Indicators 2004, 84). Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ. Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiều 9 quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (BCBS’s Sound Practices for Loan Accounting and Disclosure 1999, 107).
Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Như vậy, quan điểm về nợ xấu của Ủy ban Basel cũng dựa vào hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nó xuất hiện 1 trong 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) coi là không có khả năng trả nợ.
Bản chất của một khoản nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Theo điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 ngày 22/04/2005 và sửa đổi trong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 và gần đây nhất theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau [3]: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”. Các khoản nợ được thực hiện phân loại đồng thời theo Điều 10 và Điều 11 thông tư này. Trong đó: 10 - Phân loại nợ theo Điều 10 là phân loại theo phương pháp định lượng, tức là chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ (Nhóm 3: thời gian quá hạn từ 91-180 ngày; Nhóm 4: Thời gian quá hạn từ 181-360 ngày; Nhóm 5: Thời gian quá hạn lớn hơn 360 ngày).
- Phân loại nợ theo Điều 11 là phân loại theo phương pháp định tính, tức là chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng (Nhóm 3: Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được đánh giá là có khả năng tổn thất; Nhóm 4: Các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao; Nhóm 5: Các khoản nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày; (ii): khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ về khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ (hay khả năng tổn thất của các khoản nợ). Qua những định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến gây thiệt hại cho ngân hàng.
Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế thì có thể thấy mặt định lượng thời gian quá hạn 91 ngày là khá tương đồng.Về mặt định tính, Việt Nam cũng có những dấu hiệu giống khái niệm của quốc tế là khả năng trả nợ của khách hàng. Việc cho phép phân loại nợ theo phương pháp định tính hay định lượng cho thấy Việt Nam có sự thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore). Phân loại nợ xấu Theo Quyết định số 22/VBHN - NHNN ngày 04/6/2014 của ngân hàng nhà nước ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng 11 để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi ở Việt Nam hiện nay phổ biến thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), bao gồm : - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn. - Các khoản nợ quá thời hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là cókhả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, Điều 6. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày. - Các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng có đánh giá khách hàng và khả năng về trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng kì hạn được điều chỉnh lần đầu). - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), bao gồm : - Các khoản nợ quá thời hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b khoản này. - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.
12 Nợ xấu thuộc nhóm này được xem là các khoản nợ có khả năng thu hồi nợ cao nhất. Ngân hàng sẽ trích lập 1 tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của nhóm. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), bao gồm : - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2. - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6. Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi nợ thấp hơn sovới các khoản nợ của nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ.
Tỉ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm : - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. - Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai.
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 điều này. Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vậy tỉ lệ trích lập DPRR tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm. Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.
13 Theo quy định, nợ xấu là nợ được phân vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trên cơ sở kết quả phân loại nợ, TCTD chủ động thực hiện hạch toán, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định [4]. Tuy nhiên, trên thực tế các TCTD xem xét nợ xấu chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồi các món vay. Nợ xấu trong cho vay của NHTM gây hậu quả lớn đối với cả khách hàng vay và ngân hàng, nền kinh tế.
Đối với khách hàng vay, nợ xấu tạo áp lực trả nợ buộc kháchhàng phải giải quyết nợ trong tình trạng tài chính không tốt, khách hàng bị mất uy tín (cá nhân khách hàng hoặc doanh nghiệp). Đối với NHTM, nợ xấu làm giảm thu nhập của ngân hàng, thua lỗ và ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản vì mất uy tín hiệu ứng rút tiền ồ ạt.