CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN CỦA NHTM 1. Nợ quá hạn trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm và bản chất của nợ quá hạn. Theo quyết định số 493/ 2005/ QĐ – NHNN về việc ban hành quy định về phân loại nợ trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng đã nêu rõ: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
Bản chất nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng đến thời hạn thanh toán các khoản nợ mà người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ của mình đối với người cho vay. Nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, sau nữa là nó có thể dẫn đến sự vi phạm đặc trưng thứ hai của tín dụng là tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với người nhận tín dụng. Một khoản tín dụng được cấp luôn được xác định bởi hai yếu tố: thời hạn hoàn trả và lượng giá trị được hoàn trả. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả nợ được một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay.
Nguyên nhân phát sinh NQH 1. Nguyên nhân từ phía khách hàng Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên NQH đối với các NHTM. Từ khi hoạt động của NHTM ra đời, phát triển và hoàn thiện hơn thì tới 80% nguyên nhân gây RRTD là từ phía khách hàng. Các NHTM cho đến ngày nay cũng đưa ra nhiều biện pháp và có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc hạn chế RRTD từ nguyên nhân này, việc tìm hiểu về KH trước, trong và sau khi cho vay, độ tin cậy trong quá trình quan hệ, mục đích sử dụng tiền vay, hiệu quả SV: Nguyễn Văn Trường Lớp: CQ50/15.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện tài chính của phương án SXKD là cơ sở vững chắc cho việc quyết định có cho vay hay không.
Tuy nhiên, NQH vẫn xảy ra và trở thành vấn đề bức xúc trong hệ thống NHTM nước ta hiện nay, vậy nguyên nhân là do đâu? - Rủi ro trong công việc kinh doanh của người đi vay Trong điều kiện phát triển như ngày nay, chúng ta chủ yếu xét đến các DN. Khi các DN được phép vay một khoản vay để thực hiện một dự án kinh doanh thì phần chi phí để trả cho NH được trích từ lãi mà dự án này thu được. Như vậy, bất cứ một rủi ro nào trong quá trình SXKD của DN (đang sử dụng vốn của NH) cũng đều ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ NH. Tính rủi ro trong công việc kinh doanh của DN có thể do việc triển khai dự án đầu tư SXKD không khoa học, chưa thực hiện kỹ càng, xác thực.
Các số liệu về mức tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường, chất lượng NVL đầu vào, các yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm chưa đầy đủ. Ngoài ra, cũng có thể có những nguyên nhân bất khả kháng, ngoài ý muốn của các điều kiện sản xuất, gây nên tình trạng khó khăn trong làm ăn, mang lại rủi ro cho DN và làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NH ở các mức độ khác nhau. - Các thiệt hại DN phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp Giá cả của NVL trên thị trường tăng do khan hiếm hay do một lý do nào khác làm cho DN không thể không tiến hành SX. Như vậy sẽ đẩy giá thành của mỗi đơn vị sản phẩm tăng lên, trong khi đó giá bán sản phẩm trên thị trường lại không thay đổi sẽ làm cho tổng doanh thu giảm xuống, lợi nhuận thu được từ dự án cũng giảm so với kế hoạch.
Còn nếu như tăng giá bán sản phẩm để bù đắp phần chi phí tăng thêm thì sẽ làm cho việc tiêu thụ gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốn chậm, dễ dàng vi phạm việc trả nợ NH về mặt thời hạn. - DN phải chịu thiệt hại trên thị trường tiêu thụ SV: Nguyễn Văn Trường Lớp: CQ50/15.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện tài chính Nếu kế hoạch sản phẩm của dự án SXKD không thực hiện kĩ càng, chính xác thì sẽ làm nảy sinh hai vấn đề gây rủi ro trong SXKD của DN. Bởi nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế rất nhạy cảm. + Thứ nhất là: Nếu khối lượng sản phẩm sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu thị trường tiêu thụ sẽ gây nên tình trạng ứ đọng hàng và hậu quả là vốn bị ứ đọng khả năng thu hồi chậm.
+ Thứ hai là: Nếu chất lượng sản phẩm kém, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng gây nên tình trạng ứ đọng vốn do không bán được hàng. Nếu DN phải bán với giá thấp hơn giá trị của hàng hoá, phải bỏ thêm chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa… Như vậy sẽ làm tăng tính rủi ro trong kinh doanh của DN và việc trả nợ cho NH đúng thời hạn khó mà thực hiện được. - Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích sẽ không đảm bảo an toàn của vốn vay trong quá trình sử dụng, sẽ gây lãng phí hay mất vốn. Như vậy NH cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ của mình.
- Năng lực tài chính của DN, của chủ dự án không lành mạnh khả năng thanh toán kém Có nghĩa là các nguồn thu của DN thì hạn chế trong khi các khoản nợ đến hạn của DN ngày càng lớn như: nợ ngân sách, trả lương công nhân viên chức, nợ người bán, nợ NH…Và cơ cấu vốn đầu tư không hợp lý: Giá trị TSCĐ tăng nhanh trong khi quy mô của DN lại không có khả năng mở rộng. - Do ý muốn chủ quan của người đi vay không trả nợ cho NH hay là rủi ro đạo đức của người đi vay Không ít tổ chức cá nhân vay vốn NH là những người yếu kém về tư cách đạo đức. Họ không có ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc thiếu ý thức trong vấn đề trả nợ, không lo lắng quan tâm đến nợ ngân hàng mặc dù SV: Nguyễn Văn Trường Lớp: CQ50/15.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện tài chính khả năng tài chính của doanh nghiệp có. Khách hàng cố tình lừa đảo vay vốn ngân hàng không nhằm mục đích sản xuất kinh doanh mà nhằm chiếm dụng vốn của ngân hàng cho mục đích cá nhân.
Nguyên nhân từ phía NH Tuy chiếm tỉ lệ không cao trong các nguyên nhân gây rủi ro tín dụng - NQH, nhưng nó lại phản ánh trình độ, khả năng quản lý, năng lực kinh doanh của NHTM. Trước hết là ở tầm quản lý, ban quản trị NH phải đưa ra được một chính sách cho vay phù hợp với thực tế. Bởi chính sách cho vay là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của NH. Chính sách đưa ra đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, đúng đắn, sẽ xác định phương hướng đúng đắn cho CBTD khi thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả KT-XH của hoạt động tín dụng, nếu không sẽ dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra khe hở cho người sử dụng vốn, như vậy sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng - NQH.
Thứ hai là NH chưa thật chú trọng vào mục tiêu của các khoản vay, tính toán thiếu chính xác hiệu quả đầu tư của dự án dẫn đến các quyết định sai lầm trong cho vay. Thứ ba là NH đã không chú trọng khâu giám sát khoản vay sau quyết định cho vay hay quá tin vào khách hàng. Có thể dẫn đến tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, hay tình hình tài chính, khả năng thanh toán của KH có vấn đề. Như vậy sẽ gây nên rủi ro cho khoản vay NH.
Thứ tư là do trình độ của CBTD còn yếu kém không có khả năng đánh giá dự án vay vốn. Thêm vào đó NH lại không cung cấp đủ số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí của DN trong ngành, khả năng phát triển trong tương lai… Từ đó dẫn đến việc đánh giá sai hiệu quả của dự án cho vay. SV: Nguyễn Văn Trường Lớp: CQ50/15.03 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Học viện tài chính Mặt khác cũng có thể do tư cách đạo đức của CBTD, thông đồng với KH để trục lợi riêng gây nên rủi ro tín dụng cho NH và tình trạng NQH rất dễ xảy ra. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như: - NH quá tin tưởng vào giá trị của tài sản thế chấp cầm cố sau khi đã đánh giá và coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho việc thu hồi gốc và lãi vay.
Bỏ qua công tác phòng ngừa RR, giám sát hoạt động của dự án, sử dụng vốn vay của KH. Không đưa ra được các biện pháp để xử lý khi có dấu hiệu của một khoản nợ xấu. - CBTD không thể bao quát được hết các điểm yếu về mặt pháp lý hay sai sót chủ quan, khách quan của khách hàng trong hồ sơ chứng từ xin vay. - Tình trạng thiếu thông tin tín dụng, chưa phân loại được DN, chưa có sự phân tích, đánh giá DN một cách đúng đắn và khách quan.
- NH chưa đưa ra được một cơ cấu quản lý, theo dõi rủi ro, chưa đưa ra được hạn mức tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, loại sản phẩm, địa phương khác nhau, hay quá tập trung vào một đối tượng khách hàng, một ngành nghề sẽ không phân tán được rủi ro. - Đưa ra định kỳ trả nợ chưa thích hợp với vòng luân chuyển vốn: kỳ hạn trả nợ được xác định dựa trên chu kỳ sản xuất, kế hoạch bán hàng và doanh thu. Việc các NHTM không tính toán được kỳ hạn trả nợ phù hợp sẽ gây ra tình trạng chiếm dụng vốn của NH để sử dụng với mục đích khác hay KH không trả nợ được đúng hạn bởi chu kỳ SXKD chưa kết thúc, chưa thu lại được vốn và lãi. - Tư tưởng chạy theo thành tích, tăng dư nợ một cách không có căn cứ vượt lên trên nhiều nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu cần thiết hợp lý của DN và cá nhân, khả năng quản lý hiện có của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Văn Trường Lớp: CQ50/15.