CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN MÓNG NHÀ CAO TẦNG BẰNG CỌC XI MĂNG ðẤT 1. Tổng quan về nền móng công trình nhà cao tầng: 1.1 Khái niệm về nhà cao tầng : ðịnh nghĩa nhà cao tầng theo Uỷ ban Nhà cao tầng Quốc tế: Ngôi nhà mà chiều cao của nó là yếu tố quyết ñịnh các ñiều kiện thiết kế, thi công hoặc sử dụng khác với các ngôi nhà thông thường thì ñược gọi là nhà cao tầng. Căn cứ vào chiều cao và số tầng nhà, Uỷ ban Nhà cao tầng Quốc tế phân nhà cao tầng ra 4 loại như sau: - Nhà cao tầng loại 1: từ 9 ñến 16 tầng (cao nhất 50m) - Nhà cao tầng loại 2: từ 17 ñến 25 tầng (cao nhất 75m) - Nhà cao tầng loại 3: từ 26 ñến 40 tầng (cao nhất 100m) - Nhà cao tầng loại 4: từ 40 tầng trở lên (gọi là nhà siêu cao tầng) Về ñộ cao khởi ñầu của nhà cao tầng, các nước có những qui ñịnh khác nhau. Dựa vào yêu cầu phòng cháy, tiêu chuẩn ñộ cao khởi ñầu nhà cao tầng ñược trình bày ở bảng 1.1 - ðộ cao khởi ñầu nhà cao tầng của một số nước Tên nước ðộ cao khởi ñầu Trung Quốc Nhà ở 10 tầng và 10 tầng trở lên, kiến trúc khác ≥ 28m Liên Xô (cũ) Nhà ở 10 tầng và 10 tầng trở lên, kiến trúc khác 7 tầng Mỹ 22 ÷ 25 m hoặc trên 7 tầng Pháp Nhà ở > 50m, kiến trúc khác > 28m Anh 24,3m Nhật Bản 11 tầng, 31m Tây ðức ≥ 22m (từ mặt nền nhà) Bỉ 25m (từ mặt ñất ngoài nhà) 5 1.2 Các loại móng nhà cao tầng [1], [4]: Nền móng có thể ñược phân loại dựa theo ñộ sâu mà tải trọng công trình truyền qua ñất nền.
Móng nông là loại móng có tỷ số giữa ñộ sâu chôn móng D và bề rộng của móng B nhỏ hơn hoặc bằng 2, D/B ≤ 2. Móng sâu là loại móng có tỷ số giữa ñộ sâu chôn móng D và bề rộng của móng B lớn hơn hoặc bằng 2, D/B ≥ 2. Công trình bên trên truyền tải trọng xuống móng thông qua cột bằng bê tông có cường ñộ chịu nén cao. Trong khi ñó khả năng chịu tải của ñất nền thường nhỏ hơn vài trăm lần.
Như vậy móng là vật liệu giao tiếp giữa hai loại vật liệu có sự chênh lệch về cường ñộ vài trăm lần. Kết quả là móng phải truyền tải trọng xuống nền sao cho ứng suất gây ra không ñược vượt quá khả năng chịu tải của ñất nền và ñộ lún của nền phải nằm trong giới hạn cho phép. Móng nông có khuynh hướng truyền tải trọng theo phương ngang ở chu vi móng trong khi ñó móng sâu có khuynh hướng truyền tải trọng theo phương ñứng dọc theo diện tích xung quanh móng. Móng bè: Móng bè là loại móng nông ñỡ nhiều cột theo hai phương hoặc ñỡ toàn bộ cột của công trình.
Móng bè ñược sử dụng cho các công trình xây dựng trên lớp ñịa chất có khả năng chịu tải trung bình ñến tốt hoặc công trình có tải trọng cột lớn. Móng bè sẽ là phương án hiệu quả khi tải trọng ñứng phân bố áp lực lên nền tương ñối ñồng ñều. Dựa trên cấu tạo móng bè có thể phân loại như sau: - Móng bè dạng bản có chiều dày ñều (hình 1a). - Móng bè có tăng cường chiều dày về phía trên hoặc phía dưới bản móng ở chân cột (hình 1b).
- Móng bè có sườn (dầm). Sườn chạy theo cả hai phương ở phía trên bản móng hoặc phía dưới bản móng, cột nằm trên chỗ phần giao nhau của hai dầm (hình 1c). - Móng bè dạng hộp với sườn cứng theo hai phương làm tường của tầng hầm (hình 6 1d). Hình 1a Hình 1b Hình 1c Hình 1d Hình 1.1 Các loại móng bè 1.2 Móng cọc: Móng cọc là một trong những loại móng ñược sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Nhiệm vụ của móng cọc là truyền tải trọng từ công trình xuống các lớp ñất bên dưới và xung quanh cọc, làm giảm biến dạng lún và lún không ñều. Móng cọc với nhiều phương pháp thi công ña dạng như: cọc ñóng, cọc ép, cọc khoan nhồi,. nên có thể 7 sử dụng cho các công trình có ñiều kiện ñịa chất, ñịa hình phức tạp mà các loại móng nông không ñáp ứng ñược như vùng có nền ñất yếu hoặc công trình trên sông. Các bộ phận chính của móng cọc: gồm hai bộ phận chính là cọc và ñài cọc.
- Cọc là kết cấu có chiều dài lớn so với bề rộng tiết diện ngang, ñược ñóng hay thi công tại chỗ vào lòng ñất, ñá, ñể truyền tải trọng công trình xuống các tầng ñất, ñá sâu hơn nhằm cho công trình bên trên ñạt các yêu cầu của trạng thái giới hạn quy ñịnh (TCXD 205:1998). - ðài cọc là kết cấu dùng ñể liên kết các cọc lại với nhau và phân bố tải trọng của công trình lên các cọc. Ñaát yeáu Lôùp ñaát cöùng hoaëc ñaù Hình 1. Móng bè trên cọc: Nhiều công trình cao tầng của nước ngoài thường sử dụng giải pháp móng bè cọc, chủ yếu là móng bè trên cọc nhồi và cọc barrette.
Cách bố trí cọc trong ñài thường theo nguyên tắc trọng tâm nhóm cọc trùng hoặc gần với trọng tâm tải trọng công trình. Giải pháp này có ưu ñiểm là tải trọng xuống cọc ñược phân bố hợp lí hơn, tính làm việc tổng thể của nhóm cọc tốt hơn. 8 Khi ñài cứng thì các cọc ở biên sẽ chịu tải lớn hơn hoặc nhỏ hơn cọc ở giữa tùy theo trường hợp tải trọng. Khoảng cách giữa các cọc nên bố trí lớn hơn 3d ñể giảm bớt hiệu ứng nhóm cọc.
Nếu ñạt 6d thì xem như không có hiệu ứng nhóm. Móng bè cọc ñược sử dụng trong trường hợp ñất yếu rất dày, bố trí cọc theo ñài ñơn hay băng cọc không ñủ. Cần phải bố trí cọc trên toàn bộ diện tích xây dựng mới mang ñủ tải trọng của công trình. Hơn nữa bè cọc sẽ làm tăng ñộ cứng tổng thể của nền móng, bảo ñảm cho công trình làm việc ổn ñịnh lâu dài.
Móng bè cọc có cấu tạo gồm hai phần: bè và các cọc. Bè có nhiệm vụ phân phối tải trọng từ chân kết cấu cho các cọc, ñồng thời truyền một phần tải trọng xuống ñất nền tại vị trí tiếp xúc giữa ñáy bè và ñất nền. Bè có thể làm dạng bản phẳng hoặc bản dầm nhằm tăng ñộ cứng chống uốn. Chiều dày tối thiểu của bè ñược xác ñịnh theo ñiều kiện bè bị chọc thủng do lực tập trung tại chân cột, chân vách, hay do phản lực cọc.
ðể ñiều chỉnh lún không ñều có thể làm bè với chiều dày thay ñổi. Các cọc làm nhiệm vụ truyền tải trọng xuống nền ñất dưới chân cọc thông qua sức kháng mũi và vào nền ñất xung quanh cọc thông qua sức kháng bên. Có thể bố trí cọc trong bè thành nhóm hay riêng rẽ kỳ tuỳ vào mục ñích của người thiết kế, nhằm ñiều chỉnh lún không ñều, giảm áp lực lên nền ở ñáy bè hay giảm nội lực trong bè.2 Giới thiệu chung về cọc xi măng ñất : 1.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng trên thế giới : Gia cố nền theo phương pháp trộn khô xuất hiện ñầu tiên tại châu Âu, ñặc biệt là Thụy ðiển vào những năm thập niên 70 thế kỷ trước. Từ ñó ñến nay, công nghệ này ñã ñược phát triển mạnh mẽ mà kết quả là các thiết bị hòan chỉnh hơn ñược sử dụng ñể tạo ra các cọc xi măng ñất có chất lượng cao với những loại chất gia cố khác nhau phù hợp với từng loại ñất và ñã ñược cải tiến thông qua việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật hiện ñại có hiệu quả.
Cho ñến nay ñã tạo ra các cọc xi măng ñất chất lượng cao ñể gia cố nhiều loại ñất yếu khác nhau cũng như xử lý nền ñất 9 yếu có chiều dày lớn, riêng ở Nhật Bản năm 2001 khối lượng thi công ñạt 150 triệu md. Tại nhiều nước trên thế giới, việc sử dụng công nghệ cọc xi măng ñất cho gia cố nền ñất yếu trong các dự án ñường bộ, ñường sắt,. ñạt nhiều thành công. Phương pháp này chủ yếu dùng ñế ngăn chặn, giảm ñộ lún cũng như tăng hệ số an toàn của các công trình nền ñường, ñường ñắp cao, nền móng các công trình hạ tầng,… ñem lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao.
Trong lĩnh vực nghiên cứu có những công trình ñược công bố trên thế giới tiêu biểu như : - “State of the Art in Deep Mixing Technology”, paper series in J.Ground Improvement, Porpaha et al, 1998 – 2002. - Broms, “Design of lime, lime/cement and cement columns”, hội thảo Deep mixing method về ñánh giá ổn ñịnh của ñất, Stockholm, 1999. - “Deep Mixing Method Manual”, Japan, 2001. - “Design Guide For Soft Soil Stabilisation”, EU Euro soilstab Project.
Tiêu chuẩn thi công trộn sâu, “CEN,TC288 WG10”, 1997. Và nhiều báo cáo khoa học cũng như nhiều bài báo ñược ñăng trên các tạp chí khoa học trên thế giới.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng trong nước : ðã có nhiều tài liệu trong nươc ñề cập ñến vấn ñề này. Các tài liệu chủ yếu là sách giáo khoa và bài giảng. Bên cạnh ñó cũng có nhiều luận văn thạc sỹ và tiến sỹ ñề cập ñến vấn ñề này ở những khía cạnh khác nhau nhưng chưa ñầy ñủ và thống nhất.
ðặc biệt chúng ta vừa ban hành tiêu chuẩn về thiết kế, thi công và nghiệm thu cọc ñất trộn xi măng, tuy nhiên chưa ñầy ñủ và chi tiết. Nói chung ñây là một vấn ñề tương ñối mới mẻ ở nước ta mà trong thời gian sắp tới còn phải nghiên cứu thêm. Ở Việt Nam, công nghệ ñất gia cố xi măng ñã bắt ñầu ñược nghiên cứu từ năm 1980. Từ ñó ñến nay Bộ Xây dựng và bộ Giao Thông vận tải ñã ứng dụng thi công 10 nhiều công trình như : tổng kho xăng dầu Nhà Bè, tổng kho xăng dầu Hậu Giang (Trà Nóc-Cần Thơ), cảng Ba Ngòi (Khánh Hòa),… Với các công trình trên cho thấy công nghệ cột ñất xi măng ñã ñược áp dụng khá hiệu quả.
ðây có thể ñược xem là một trong các phương pháp hiệu qủa, góp phần giải quyết tình trạng lún kéo dài và kém ổn ñịnh của công trình tại các khu vực này.3 Tóm tắt về phương pháp cọc xi măng ñất [1]: ðây là phương pháp gia cố ñất sâu.