Luận văn: Đẩy mạnh xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ

Luận văn phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp toàn diện nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ.

Chuyên ngành

Kinh doanh thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam sang Hoa Kỳ

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu nông lâm thủy sản hàng đầu thế giới với thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp. Thị trường Hoa Kỳ là đối tác thương mại chiến lược và thị trường tiêu thụ giàu tiềm năng cho các mặt hàng nông sản Việt. Trong giai đoạn 2010-2016, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Hoa Kỳ đã tăng trưởng đáng kể, bao gồm các sản phẩm chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, chè, gỗ và thủy sản. Tuy nhiên, ngành nông lâm thủy sản Việt vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ các rào cản thương mại, tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, và các quy định bảo vệ môi trường của Hoa Kỳ. Việc hiểu rõ tình hình hiện tại là bước quan trọng để xây dựng chiến lược xuất khẩu hiệu quả.

1.1. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực

Các mặt hàng xuất khẩu nông lâm thủy sản chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ bao gồm gạo với kim ngạch ổn định, cà phê với giá trị cao, hạt điều và hồ tiêu có giá trị xuất khẩu đáng kể. Bên cạnh đó, sản phẩm gỗ, chè, và thủy sản cũng chiếm tỷ trọng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu. Mỗi mặt hàng có xu hướng phát triển riêng, phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng Mỹ và khả năng cạnh tranh giá của Việt Nam.

1.2. Tiềm năng và thách thức hiện tại

Thị trường Hoa Kỳ có dân số lớn, nhu cầu tiêu dùng cao và khả năng chi trả mạnh mẽ. Tuy nhiên, rào cản thương mại như thuế quan, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm FDA, và các quy định về APHIS tạo thách thức lớn cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế là điều kiện tiên quyết.

II. Các rào cản và chính sách bảo hộ nông nghiệp của Hoa Kỳ

Chính sách bảo hộ nông nghiệp của Hoa Kỳ được thể hiện qua cả rào cản thuế quanphi thuế quan. Các biện pháp này nhằm bảo vệ nông dân Mỹ và đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Thuế quan đối với sản phẩm nông lâm thủy sản từ Việt Nam có mức khác nhau tùy theo sản phẩm cụ thể. Bên cạnh đó, các quy định kỹ thuật như tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, quy trình HACCP, và chứng chỉ FSC đối với sản phẩm gỗ tạo nên những yêu cầu khắt khe. Hiểu rõ các rào cản này giúp các doanh nghiệp Việt chuẩn bị chiến lược phù hợp để vượt qua các thách thức thương mại.

2.1. Rào cản thuế quan và phi thuế quan

Hoa Kỳ áp dụng mức thuế quan khác nhau cho các sản phẩm nông nghiệp, với một số mặt hàng chịu thuế suất cao hơn. Bên cạnh rào cản thuế quan, các rào cản phi thuế quan như tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, và yêu cầu về truy xuất nguồn gốc sản phẩm tạo thành những khó khăn đáng kể cho các nhà xuất khẩu.

2.2. Quy định về an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn chất lượng

Cơ quan FDAFSIS của Hoa Kỳ đề ra những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm rất khắt khe, bao gồm quy trình HACCP, giám sát SIMP đối với thủy sản, và các yêu cầu về nhãn mác. Các doanh nghiệp xuất khẩu phải tuân thủ hoàn toàn để sản phẩm được phép vào thị trường Mỹ.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu

Để đẩy mạnh xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Hoa Kỳ, Việt Nam cần triển khai các giải pháp toàn diện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm. Các giải pháp này bao gồm cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, đầu tư công nghệ hiện đại, và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đồng thời, các doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin về quy định Hoa Kỳ, và tham gia các chương trình hỗ trợ từ Nhà nước. Việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững, áp dụng công nghệ blockchain để truy xuất nguồn gốc, và đạt các chứng chỉ quốc tế sẽ giúp sản phẩm Việt chiếm lĩnh thị trường Mỹ.

3.1. Cải thiện chất lượng sản phẩm và tuân thủ tiêu chuẩn

Doanh nghiệp xuất khẩu nông lâm thủy sản phải đầu tư vào cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng nguyên liệu, áp dụng tiêu chuẩn HACCP, và xin cấp chứng chỉ quốc tế như FSC, GSP. Việc đạt được các chứng chỉ này không chỉ giúp sản phẩm tuân thủ quy định mà còn tạo lợi thế cạnh tranh.

3.2. Hỗ trợ chính sách và phát triển thương hiệu

Nhà nước cần cung cấp hỗ trợ chính sách về tài chính, khuyến khích đầu tư công nghệ, hỗ trợ tiếp cận thông tin quy định Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp nên xây dựng thương hiệu sản phẩm, tham gia triển lãm quốc tế, và phát triển các kênh phân phối hiệu quả trên thị trường Mỹ để tăng kim ngạch xuất khẩu.

IV. Chiến lược phát triển bền vững cho xuất khẩu nông lâm thủy sản

Chiến lược phát triển xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam sang Hoa Kỳ cần theo hướng bền vữnglâu dài. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành, doanh nghiệp, và các tổ chức hỗ trợ. Cần xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả, từ khâu sản xuất đến phân phối tại thị trường Mỹ. Việc tập trung vào những mặt hàng có ưu thế cạnh tranh, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, và mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác Mỹ sẽ giúp gia tăng xuất khẩu hiệu quả. Bên cạnh đó, thúc đẩy hiệp định thương mại như CPTPP cũng tạo cơ hội lớn để giảm rào cản thuế quan và mở rộng thị trường.

4.1. Xây dựng chuỗi giá trị và hệ thống phân phối

Các doanh nghiệp cần xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu, liên kết từ nhà sản xuất đến các nhà phân phối và bán lẻ ở Hoa Kỳ. Việc áp dụng hệ thống phân phối hiện đại, sử dụng công nghệ logistics, và thiết lập mối quan hệ đối tác dài hạn sẽ giúp tối ưu chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm.

4.2. Tăng cường hợp tác quốc tế và thực hiện hiệp định thương mại

Việt Nam cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế như WTO, ITC, tham gia các hiệp định thương mại như CPTPP để giảm rào cản thuế quan. Đồng thời, tăng cường quan hệ bilat với Hoa Kỳ thông qua BTA sẽ mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và giảm bớt các chính sách bảo hộ nông nghiệp.

21/12/2025
Luận văn thạc sĩ đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản của việt nam sang thị trường hoa kỳ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà mã số thuế) và không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp. Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: - Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi… - Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt… - Các sản phẩm đƣợc chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô… Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp). Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản thường được chia thành 2 nhóm, gồm nhóm nông sản nhiệt đới và nhóm còn lại. Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác (như đay, lanh), những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới.

Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển.2 Sản phẩm lâm nghiệp Sản phẩm lâm nghiệp được chia thành 2 loại:  Lâm sản chính: những sản phẩm gỗ  Lâm sản ngoài gỗ Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm 7 nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991 “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ. Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”. Do đó, không được coi là lâm sản ngoài gỗ những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lịch sinh thái. (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 2006, tr.

Theo định nghĩa này củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây không được coi là lâm sản ngoài gỗ, không thỏa đáng đối với việc khai thác tận dụng phế liệu gỗ. Những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, dưỡng bệnh trong rừng, du lịch sinh thái, v.v…là một phạm trù khác, không được xếp vào lâm sản ngoài gỗ, nhưng trên quan điểm kinh tế cũng có nơi du lịch sinh thái cũng được coi như sản phẩm của rừng. Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về lâm sản ngoài gỗ “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng và cây ở ngoài rừng”. Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ.

Với định nghĩa này, lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ, củi và rộng hơn so với định nghĩa trước. Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, lâm sản ngoài gỗ được phân loại như sau: - Sản phẩm có sợi, bao gồm: tre nứa, mây song, các loại lá, thân, vỏ có sợi và cỏ. - Sản phẩm dùng làm thực phẩm:  Nguồn gốc từ thực vật: thân, chồi, củ, rễ, lá, hoa, quả, gia vị, hạt có dầu, nấm ăn.  Nguồn gốc từ động vật rừng: mật ong, thịt thú rừng, cá trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và các loại côn trùng.

- Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm:  Thuốc có nguồn gốc thực vật  Cây có độc tính  Cây làm mỹ phẩm 8 - Các sản phẩm chiết xuất:  Tinh dầu  Dầu béo  Nhựa và nhựa dầu  Dầu trong chai cục  Gôm  Ta-nanh và thuốc nhuộm - Động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc  Động vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ. - Các sản phẩm khác:  Cây cảnh  Lá để gói thức ăn và hàng hóa. Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể việc phân loại không cố định mà biến đổi theo địa phương và thời gian vì công dụng của lâm sản có sự thay đổi, ví dụ: Quế có thể xếp vào dược liệu nhưng cũng được xếp vào gia vị. cũng như nhiều sản phẩm có thể được phân vào các nhóm khác nhau tuỳ từng nơi, từng lúc… 1.3 Sản phẩm thủy sản Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.

Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loại cá. Một số loài là cá trích, cá tuyết, cá cơm, cá ngừ, cá bơn, cá đối, tôm, cá hồi, hàu và sò điệp có năng suất khai thác cao. Trong đó ngành thủy sản có liên quan đến việc đánh bắt cá tự nhiên hoặc cá nuôi thông qua việc nuôi cá. Nuôi trồng thủy sản đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lớn đến đời sống của hơn 500 triệu người ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản.

Phân loại thủy sản Sự phân loại các loài thủy sản được dựa theo đặc điểm cấu tạo loài tính ăn và môi trường sống và khí hậu. - Nhóm cá (fish): là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là 9 cá nước ngọt hay cá nước lợ. Ví dụ: cá tra, cá bống tượng, cá chình… - Nhóm giáp xác (crustaceans): phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối tượng nuôi quan trọng. Ví dụ: tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua biển.

- Nhóm động vật thân mềm (molluscs): gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển (nghêu, sò huyết, hàu, ốc hương,….) và một số ít sống ở nước ngọt (trai, trai ngọc). Lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước (ví dụ: ếch, rắn…) được nuôi để lấy thịt, lấy da dùng làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ như đồi mồi (lấy vây), ếch (lấy da và thịt), cá sấu (lấy da).2 Đặc điểm thị trƣờng nông lâm thủy sản ở Hoa Kỳ Không chỉ có nền công nghiệp và dịch vụ luôn tăng trưởng mạnh mẽ, Hoa Kỳ còn là một đất nước có ngành nông nghiệp phát triển, đứng đầu thế giới về sản lượng ngũ cốc (lúa mì, ngô. Nhờ có diện tích lãnh thổ rộng lớn, có nhiều miền khí hậu thuận lợi, công nghệ sinh học phát triển, khả năng ứng dụng cao, chính phủ Hoa Kỳ hàng năm đầu tư trên hàng chục tỷ USD tài trợ cho phát triển nông nghiệp. Chính vì vậy tất cả các ngành nông nghiệp của Mỹ: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, chế biến nông sản đều rất phát triển.

Mặc dù hiện nay, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP nhưng các trang trại vẫn duy trì được sức mạnh kinh tế và chính trị của mình. Trong những năm gần đây, giá trị thị trường của sản lượng nông nghiệp Mỹ đã đạt hơn 200 tỷ USD, bao gồm 45 tỷ USD từ thịt gia súc và da bò; gần 40 tỷ USD từ các loại hạt như ngô, lúa mì và các loại hạt dầu như đậu nành; gần 24 tỷ USD từ gia cầm và trứng; 20 tỷ USD từ sữa và các sản phẩm bơ sữa và 12 tỷ USD từ cừu và lợn. Mặc dù Mỹ luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại nhưng lại thặng dư trong thương mại nông sản. Sản phẩm nông nghiệp có giá trị xuất khẩu lớn, khoảng 75 - 10 80 tỉ USD mỗi năm (VCCI 2016, tr.

Theo số liệu năm 2014, Hoa Kỳ xuất khẩu 149,98 tỷ đô-la, trong năm 2015 giá trị xuất khẩu của nhóm mặt hàng này đạt 133,05 tỷ USD (VCCI 2016, tr.6), trong đó phần lớn nhất được xuất sang các nước Châu Á, mặc dù Canada và Mêhicô là hai thị trường có đóng góp lớn nhất trong sự tăng trưởng mới đây của xuất khẩu nông sản). Khoảng ¼ sản lượng đầu ra của các nông trại Mỹ được xuất khẩu (VCCI 2016, tr. Lương thực được sản xuất ra rất an toàn, có chất lượng cao, phong phú và giá cả phải chăng. Nền nông nghiệp Hoa Kỳ cũng đạt được sự dồi dào và đa dạng nhất trên thế giới.

Các sản phẩm nông nghiệp chính của Hoa Kỳ gồm lúa mỳ, các loại ngũ cốc khác, ngô, hoa quả, bông, thịt bò, thịt lợn, gia cầm, sản phẩm sữa, lâm sản, cá.1 Nhu cầu Nhập khẩu nông thuỷ sản và thực phẩm của Hoa Kỳ có xu hướng tăng trong các năm gần đây do thị trường có nhu cầu đối với các loại sản phẩm có trị giá gia tăng cao, tươi sống, và cần nhiều lao động như các loại hoa quả, hạt, rau, cà phê, chè, các loại đồ uống, và thuỷ sản. Giá trị: tỷ USD 120 111.1: Kim ngạch nhập khẩu nông lâm thủy sản của Hoa Kỳ giai đoạn 2010-2015 Nguồn: Statista 11 Từ năm 2009-2015, nhập khẩu của Hoa Kỳ về sản phẩm nông nghiệp liên tục tăng, năm 2015 đạt 113,5 tỷ USD tăng 58,3 % so với năm 2009 đạt 71,7 tỷ USD. Tăng thu nhập cá nhân ở Hoa Kỳ là nguyên nhân chính dẫn đến tăng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm có trị giá gia tăng cao được nhập khẩu từ nước ngoài như vừa nêu, đặc biệt là trong thời gian không phải là mùa vụ đối với các loại nông sản này ở Hoa Kỳ và sự gia tăng người nước ngoài nhập cư vào Hoa Kỳ cũng là những nguyên nhân dẫn đến tăng nhập khẩu các loại nông thuỷ sản và thực phẩm. Nhập khẩu nông thuỷ sản của Hoa Kỳ tăng cũng một phần do năng lực vận tải phát triển cho phép tiết kiệm thời gian và chi phí vận tải hàng hóa, và một phần do Hoa Kỳ giảm bớt các hàng rào nhập khẩu nông sản.

Nhiều nước đang phát triển, thường là với sự hợp tác đầu tư của nước ngoài, đã tận dụng lợi thế so sánh như giá lao động rẻ, khí hậu thuận lợi và tỷ giá ngoại hối thuận lợi phát triển mạnh các loại nông thuỷ sản có trị giá cao chủ yếu để xuất khẩu sang các nước phát triển, trong đó có Hoa Kỳ. Khoảng 43% kim ngạch nhập khẩu nông thuỷ sản và thực phẩm của Hoa Kỳ trong năm 2015 là các sản phẩm nuôi trồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ