Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chương trình xây dựng nông thôn mới. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2014 Chương 4: Giải pháp phát triển mô hình nông thôn mới trên địa bàn huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHƢƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Nông nghiệp và nông thôn 1. Khái niệm nông nghiệp và nông thôn * Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm. để thoả mãn các nhu cầu của mình. Theo nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch.Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai. Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi. Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật.
Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol.), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine.) * Khái niệm nông thôn Ở mỗi nước có các quan niệm khác nhau về nông thôn (vùng nông thôn) do điều kiện KT-XH, điều kiện tự nhiên khác nhau. Trong từ điểm tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1994, nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông. Còn trong từ điển Bách khoa Xô Viết của Nhà xuất bản Bách Khoa Liên Xô năm 1986 định nghĩa thành thị là khu vực dân cư làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp. Hai định nghĩa này mới chỉ nói lên một đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị.
Song trên thực tế, chúng ta thấy nông thôn và thành thị không chỉ có sự khác nhau về đặc điểm nghề nghiệp và dân cư mà còn có sự khác nhau về nhiều đặc điểm khác như tự nhiên, kinh tế và xã hội. Do vậy, để xác định đâu là vùng nông thôn, đâu là thành thành thị, chúng ta phải xét trên nhiều khía cạnh. Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có tình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn. Từ đây, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm chung về vùng nông thôn như sau : Nông thôn là vùng đất đai rộng với một cộng đồng dân cư chủ yếu làm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp, thu nhập và mức sống của dân cư thấp hơn đô thị.
Như vậy, khái niệm về vùng nông thôn phải bao gồm tổng hợp nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau, mà từng mặt, từng tiêu chí riêng lẻ không thể nói lên một cách đầy đủ. Mặt khác chúng ta thấy, khái niệm này cũng chưa phải đã hoàn chỉnh, nếu không đặt nó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi vùng, mỗi nước và mỗi thời kỳ. Vai trò của nông nghiệp và nông thôn Như khái niệm ở trên cho thấy nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về các mặt tự nhiên - kinh tế - xã hội và có vai trò ổn định về mặt kinh tế - chính trị - xã hội. Nông nghiệp là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người như lương thực, thực phẩm mà không người sản xuất ra vật chất nào có thể thay thế được.
Ngoài ra nông nghiệp còn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu. Trong lịch sử phát triển của thế giới, bất cứ ở nước nào dù giàu hay nghèo, nông nghiệp đều có trị trí quan trọng trong nền kinh tế. Sự phát triển nông nghiệp tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia. Nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại lệ, tùy theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp bằng cách thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nông nghiệp và các ngành khác trong nền KTQD.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nông nghiệp nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của con người. Nông nghiệp phát triển là một trong những nhân tố bảo đảm cho các ngành công nghiệp hóa học, cơ khí, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ sản xuất và đời sống phát triển. Ở hầu hết các nước đang phát triển, NNNT là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ. Như vậy có thể nói trong hoạt động của nền KTQD, các lĩnh vực sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ luôn có mối liên hệ ràng buộc và cộng sinh.
Sự liên hệ này thể hiện ở chỗ không những nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, vốn và lao động cho công nghiệp và dịch vụ mà còn là thị trường rộng lớn của công nghiệp, dịch vụ. Mối liên hệ này còn được thể hiện ở cả những vấn đề khoa học và công nghệ được áp dụng trong quá trình sản xuất, chúng có tác dụng như đòn bẩy để cho cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ phát triển. Hoạt động của nông nghiệp còn có tác dụng bảo tồn và cải tạo tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái. Sản xuất nông, lâm nghiệp luôn gắn liền với việc sử dụng có hiệu quả và quản lý tốt các tài nguyên như đất đai, rừng, biển, động thực vật,.
Một nền nông nghiệp phát triển, ngoài việc tăng trưởng cao còn phải bảo vệ tài nguyên, chống giảm cấp về môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học. Đó là yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững. Việt Nam là một nước nông nghiệp, vị trí vai trò của nông nghiệp càng trở lên quan trọng trong nền KTQD, mặc dù xu hướng chung là tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp trong tổng GDP sẽ giảm dần trong quá trình tăng trưởng nền kinh tế, nhưng vai trò của nông nghiệp, nông thôn vẫn luôn được khẳng định trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Hiện nay ở Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển trên thế giới vẫn còn tình trạng lợi ích mang lại trong quá trình tăng trưởng kinh tế đổ dồn về thành thị hơn là về nông thôn.
Vấn đề đã trở nên rõ ràng là nếu không tập trung đầu tư có hiệu quả và lâu dài vào ngành nông nghiệp và nông thôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thì sẽ có nguy cơ tăng thêm độ chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị và sẽ làm trầm trọng hơn sự phá hủy các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hơn thế nữa với khoảng 76% dân số sống ở vùng nông thôn cũng chứa đựng một lượng lao động khá lớn, nếu không giải quyết tốt công ăn việc làm thì sẽ tăng thêm sự bất ổn định về chính trị của đất nước. Mặt khác tình trạng nghèo đói ở Việt Nam vẫn chủ yếu là ở các vùng nông thôn (người nghèo ở nông thôn chiếm 90% tổng số người nghèo trong cả nước). Tình trạng nghèo ở nông thôn càng trở lên trầm trọng hơn do tăng tự nhiên về dân số với tỷ lệ cao.
Vì vậy, tập trung vào chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn: Xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, tạo thêm công ăn việc làm là điều kiện tiên quyết cho phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam. Những vấn đề chủ yếu về nông thôn mới 1.