phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU. Cho tới thời điểm hiện nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên dƣới nhiều góc độ khác nhau, đƣợc công bố dƣới dạng sách, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn tốt nghiệp và các bài viết trên một số tạp chí, sách, báo.
Trong đó có: Nguyễn Hoàng Hiệp, 2006. Việc làm cho thanh niên trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tạp chí Lao động và Xã hội, số 292, tr 11-13. Bài viết tập trung phân tích thực trạng việc làm cho thanh niên, đƣa ra xu hƣớng phát triển của thị trƣờng lao động thanh niên trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên.
Lê Bạch Hồng, 2007. Một số giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên trong giai đoạn 2007-2010. Tạp chí Lao động và Xã hội, số 310, tr 5-7. Bài viết tập trung đánh giá, phân tích thực trạng việc làm của thanh niên, đề xuất những giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho thanh niên trong giai đoạn 2007-2010.
Nguyễn Hồng Bích, 2007. Việc làm cho thanh niên nông thôn miền tây nam bộ. Luận văn thạc sĩ kinh tế. Trƣờng Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn làm rõ cơ sở khoa học của việc giải quyết việc làm nói chung và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ nói riêng. 6 Đánh giá đúng thực trạng vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ đến năm 2015. Hà Duy Hào, 2010. Tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2015.
Luận văn thạc sĩ kinh tế. Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân. Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Trình bày về nhu cầu việc làm của lứa tuổi thanh niên và vai trò của họ trong sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn khẳng định thanh niên là một bộ phận quan trọng của nguồn lao động, nhu cầu đƣợc làm việc, đƣợc học tập là nhu cầu chính đáng của thanh niên từ 16 - 30 tuổi đòi hỏi các tổ chức xã hội, chính quyền, đoàn thể và mọi ngƣời lao động phải quan tâm.
Luận văn phân tích thực trạng tạo việc làm cho thanh niên, đề xuất những phƣơng hƣớng và biện pháp chủ yếu tạo việc làm cho thanh niên trong tuổi lao động (cả về chính sách kinh tế - xã hội lẫn việc tạo việc làm) giai đoạn 2010-2015 ở tỉnh Hà Tĩnh. Phan Thị Thúy Linh, 2011. Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng. Luận văn thạc sĩ kinh tế.
Trƣờng Đại học Đà Nẵng. Luận văn hệ thống hóa, phân tích một số cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề và tạo việc làm. Đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề và tạo việc làm hiệu quả cho thanh niên thành phố Đà Nẵng đến năm 2020. Nguyễn Ngọc Khuyên, 2013.
Phát triển lực lƣợng lao động ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Luận văn thạc sĩ kinh tế. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu của luận văn: Hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về phát triển lực lƣợng lao động của huyện Xín Mần nhằm giúp các nhà hoạch định có chiến lƣợc phát triển và nâng cao chất lƣợng lực lƣợng lao động.
Đánh giá thực trạng về phát triển lực lƣợng lao 7 động của huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang từ năm 2001 đến năm 2013. Bao gồm những kết quả, hạn chế và nguyên nhân. Đề xuất phƣơng hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển lực lƣợng lao động ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn mới. Thị trƣờng sức lao động ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long.
Luận án tiến sĩ kinh tế. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu: Hệ thống hoá lý luận về thị trƣờng sức lao động, hệ thống lý thuyết về lao động và thị trƣờng sức lao động. Luận án phân tích những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hƣởng đến thị trƣờng sức lao động và thực trạng hoạt động của thị trƣờng sức lao động ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Từ đó, đƣa ra những vấn đề cần giải quyết đối với thị trƣờng sức lao động ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dựa vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng thị trƣờng sức lao động ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, luận án đƣa ra cơ sở định hƣớng và đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy phát riển thị trƣờng sức lao động ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020. Vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên còn đƣợc nghiên cứu với nhiều góc độ chuyên ngành khác thông qua các công trình đăng tải trên hệ thông các tạp chí, các công trình khoa học của nhiều tác giả, có thể liệt kê nhƣ: Triệu Thị Trinh, 2013. Vấn đề lao động, việc làm của thanh niên nông thôn hiện nay, thực trạng và giải pháp.
Tạp chí tuyên giáo, số 326, tháng 10/2013. Phạm Đức Chính, 2008. Việc làm và chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 363, tháng 8/2008.
8 Nguyễn Duy Anh, 2008. Giải quyết việc làm ở Hà Nội. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội. Vƣơng Đình Thuấn, 2012.
Hệ thống chính trị ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang trong việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới hiện nay. Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Và còn nhiều bài viết, nhiều công trình khoa học khác ít nhiều có bàn đến công tác giải quyết việc làm cho thanh niên mà trong điều kiện hiện tại luận văn chƣa tiếp cận đƣợc hết. Trên cơ sở tổng quan những nội dung và kết quả của các công trình nghiên cứu về giải quyết việc làm cho thanh niên, có thể rút ra một số kết luận nhƣ sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về GQVL cho thanh niên ở phạm vi hẹp, địa bàn nhỏ hơn còn rất ít, đặc biệt chƣa có một công trình nào nghiên cứu về GQVL cho thanh niên ở huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang mà luận văn lựa chọn.
Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã có, việc bổ sung các vấn đề còn bỏ ngỏ, còn chƣa nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn những vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn công tác GQVL cho thanh niên dƣới góc độ quản lý của nhà nƣớc, của địa phƣơng đƣợc luận văn xác định là hƣớng phát triển tiếp theo. Thứ hai, các công trình nghiên cứu trƣớc cũng đã đề cập rất nhiều lý thuyết về việc làm, GQVL cho thanh niên, các nhân tố ảnh hƣởng, nội dung của GQVL. Tuy nhiên, còn có một số vấn đề sau đây cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu: Cần thiết phải hệ thống hoá, phân tích và bổ sung làm rõ cơ sở lý luận về việc làm và GQVL, cách tiếp cận và phân loại việc làm. Các đặc điểm khác biệt của thanh niên so với lao động nói chung; những nhân tố tác động đến công tác GQVL.
9 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác GQVL cho thanh niên với điều kiện mang tính đặc thù của huyện miền núi, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm GQVL cho thanh niên huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tới và đạt mục đích nghiên cứu của luận văn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN.1 Khái niệm và phân loại việc làm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đƣa ra khái niệm việc làm theo các khía cạnh khác nhau. Về mặt bản chất, việc làm là quan hệ tích cực, sáng tạo của chủ thể việc làm với hoạt động sống của mình, với ý nghĩa, nội dung và mục đích đặt ra.
Tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận vấn đề, đƣa ra các khái niệm khác nhau về việc làm. “Các nhà kinh tế học Anh cho rằng: việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con ngƣời, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” (Phạm Đức Chính, 2005, tr. Theo quan điểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có đƣợc pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều đƣợc gọi là việc làm. “Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên xô lại cho rằng: việc làm là sự tham gia của ngƣời có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên” (Phạm Đức Chính, 2005, tr.
Theo khái niệm này thì những ngƣời đang đi học, đang tham gia hoạt động trong các lực lƣợng vũ trang, những ngƣời nội trợ đều coi là ngƣời có 10 việc làm. Ngày nay, khái niệm này đƣợc quy định rõ trong Bộ Luật Việc làm của Liên bang Nga nhƣ sau: “việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãn những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị pháp luật Liên bang ngăn cấm” (Phạm Đức Chính, 2005, tr. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lƣợng lao động.