CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Các vấn đề chung về vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Có nhiều khái niệm khác nhau về vốn của doanh nghiệp tùy theo quan điểm và cách tiếp cận. Điểm chung trong hầu hết các quan niệm khác nhau về vốn của doanh nghiệp đó là: vốn của doanh nghiệp là giá trị tiền tệ của toàn bộ tài sản và nguồn nhân lực được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận.
Như vậy, từ góc độ của chủ sở hữu doanh nghiệp, vốn chính là số tiền được ứng ra để mua sắm hình thành nên các loại tài sản và sức lao động phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn Nhà nước là vốn thuộc sở hữu Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp không chỉ để tiến hành sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận mà còn để đạt được các lợi ích khác cho cộng đồng cũng như đảm bảo thực hiện vai trò và các chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế. Xét theo nghĩa rộng, vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là vốn từ ngân sách Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp và vốn được hình thành từ các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước được trích để lại doanh nghiệp; nguồn quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp; quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn Nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến; giá trị quyền sử dụng đất, quyền sử dụng tài nguyên quốc gia được Nhà nước giao cho doanh nghiệp; các nguồn vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, bao gồm vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh và vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Cụ thể hơn, vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp bao gồm toàn bộ vốn của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước và phần vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa.
Đối với các DNNN, là doanh nghiệp Sv: Nguyễn Đăng Quang 5 Lớp:CQ50/23.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ1, trong khi tại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa thì ngoài vốn của Nhà nước còn có vốn của các chủ thể khác, tỷ trọng vốn của Nhà nước và phần phân phối kết quả sản xuất kinh doanh tương ứng theo pháp luật chính là vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp này. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò là người “chỉ huy” đối với toàn bộ nền kinh tế thông qua việc xây dựng, vận hành và giám sát thực hiện hệ thống kế hoạch có tính chất tập trung cao độ từ huy động các nguồn lực, đầu tư, sản xuất kinh doanh, phân phối cho đến tiêu dùng, tích lũy, v., do vậy, để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước được hình thành tại hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Vốn Nhà nước vì thế cũng chiếm tỷ trọng bao trùm toàn bộ nền kinh tế để đảm bảo cho các doanh nghiệp này thực hiện các mục tiêu theo kế hoạch mang tính pháp lệnh. Trái lại, trong nền kinh tế thị trường, vai trò và chức năng của Nhà nước chủ yếu là định hướng, điều tiết và giám sát nền kinh tế nhằm bảo đảm sự ổn định và tăng trưởng.
Sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế là rất hạn chế và chỉ trong những trường hợp cần thiết phải khắc phục những “khiếm khuyết” hay “thất bại” của thị trường hoặc trong những hoàn cảnh đặc biệt như khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, v. Đa số các nước có nền kinh tế thị trường ở các mức độ phát triển khác nhau vẫn duy trì sự tồn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, phạm vi hẹp nhất là những doanh nghiệp được giao nhiệm vụ cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy thuộc cả lĩnh vực hạ tầng cơ sở về kỹ thuật và xã hội. Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp và vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp này chỉ ở mức độ nhất định; và chủ yếu thông qua hệ thống luật pháp và bằng phương thức gián tiếp như các chính sách thuế đối với sản xuất và tiêu dùng, chính sách khuyến 1 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 Sv: Nguyễn Đăng Quang 6 Lớp:CQ50/23.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính khích đầu tư và phát triển, v. Đây là những lĩnh vực sản xuất kinh doanh có lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn dài, khối lượng vốn đầu tư đòi hỏi rất lớn, vượt quá khả năng và không hấp dẫn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư hoàn toàn từ khu vực ngoài Nhà nước.
Trong nền kinh tế chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, mức độ, phạm vi cũng như phương thức can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế cũng thay đổi tùy theo mức độ và trật tự ưu tiên cải cách của mỗi nền kinh tế, Nhà nước không còn điều tiết và quản lý toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế bằng các mệnh lệnh hàn chính trực tiếp song các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ đạo và định hướng cho quá trình chuyển đổi. Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước thuộc các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế vẫn được duy trì, trong khi quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước ở các lĩnh vưc khác vẫn còn cần phải đảm bảo lượng vốn Nhà nước chiếm tỷ lệ sở hữu có khả năng chi phối, dẫn dắt nền kinh tế. Nhìn chung tại các nước kinh tế chuyển đổi, vốn nhà nước vẫn là yếu tố cơ bản quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh và là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và ổn định của kinh tế. Tóm lại, nền kinh tế của các quốc gia dù được tổ chức theo các mô hình khác nhau, vai trò và chức năng của Nhà nước luôn cần thiết và quan trọng.
Dù phạm vi, mức độ và phương thức thực hiện khác nhau, song Nhà nước vẫn là chủ thể điều tiết và dẫn dắt sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Do vậy, sự tồn tại của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước là một yếu tố khách quan. Đặc điểm chung của vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp. Tính nhạy cảm và phức tạp có nguyên nhân cơ bản từ những đặc điểm Sv: Nguyễn Đăng Quang 7 Lớp:CQ50/23.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính của vốn Nhà nước, đồng thời xuất phát từ thực tế, Nhà nước vừa là chủ thể sở hữu vốn nên phải quản lý vốn của mình đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh giống như các chủ thể khác của nền kinh tế, song lại vừa là chủ thể quản lý nền kinh tế - hoạch định các chính sách, quy định để quản lý doanh nghiệp nói chung, quản lý tài chính doanh nghiệp nói riêng.
Các đặc điểm cơ bản của vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp có thể được khái quát như sau: Thứ nhất, vốn nhà nước tại các DNNN thường có quy mô lớn và được đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Đặc điểm này xuất phát từ thực tế tại các nền kinh tế thị trường: DNNN thường là những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế và là những doanh nghiệp lớn hoặc rất lớn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN là những lĩnh vực đòi hỏi mức đầu tư lớn như công nghiệp quốc phòng, giao thông vận tải biển, đường sắt, hàng không, xây dựng hạ tầng cơ sở, năng lượng, khai thác tài nguyên, v.v… Những lĩnh vực đặc biệt này không chỉ rất cần thiết, tạo tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế mà phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư hoàn toàn từ khu vực ngoài Nhà nước thường có quy mô vốn hạn chế, không thể đáp ứng. Do vậy, đầu tư và sử dụng vốn của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực này là lựa chọn phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới.
Chính vì vốn Nhà nước tại các DNNN luôn có quy mô rất lớn và đầu tư vào các lĩnh vực then chốt, cho nên việc quản lý sử dụng vốn Nhà nước một cách hiệu quả luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ hai, vốn Nhà nước là vốn công, thuộc sở hữu toàn dân và được quản lý bởi một chủ thể rất đặc biệt đó là Nhà nước. Chủ thể Nhà nước vừa là người sở hữu vốn như mọi chủ thể khác trong nền kinh tế với những yêu cầu tuân thủ pháp luật, những quy phạm xã hội, bảo vệ môi trường và đảm bảo sử dụng vốn với hiệu quả tài chính cao nhất, lại vừa là chủ thể quản lý xã hội với Sv: Nguyễn Đăng Quang 8 Lớp:CQ50/23.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính tư cách cơ quan công quyền và điều tiết chung đối với toàn bộ nền kinh tế, nghĩa là Nhà nước đồng thời đóng hai vai trò "người đá bóng" và "người thổi còi". Do vậy, việc ban hành các chính sách, quy định về quản lý kinh tế và kinh doanh khó tránh khỏi các vấn đề về công bằng hay cạnh tranh bình đẳng.
Điều này thường xảy ra ở các nước chưa có hệ thống pháp luật hoàn thiện hoặc sự tuân thủ pháp luật còn hạn chế. Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước có thể sẽ được hưởng những "lợi thế" trong những chính sách của Nhà nước về quản lý kinh tế và kinh doanh. Thứ ba, vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp rất phức tạp do hệ thống quản lý có sự phân cấp tư Trung ương đến địa phương song song với việc phân cấp quản lý vốn cho các doanh nghiệp này hay người đại diện sở hữu Nhà nước.