CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi doanh nghiệp. Đứng trên các góc độ khác nhau, khi nghiên cứu nguồn nhân lực, các học giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Theo Võ Xuân Tiến (2010), nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, gồm thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Theo Trần Kim Dung (2011),nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất con người. Theo Phạm Minh Hạc (1996), nguồn nhân lực bao gồm nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay địa phương.
Mặc dù, nguồn nhân lực được xét đến với nhiều khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau đó là nguồn nhân lực thể hiện khả năng lao động của xã hội. Nguồn nhân lực là tài nguyên quan trọng và quý giá nhất để đánh giá tiềm lực phát triển của mỗi quốc gia, mỗi vùng, ngành, địa phương, mỗi doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là nguồn lực phong phú nhất và đa dạng nhất so với các loại tài nguyên khác. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi doanh nghiệp.
Cũng giống như khái niệm về nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực cũng có nhiều khái niệm và mỗi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khái niệm đề cập đến những khía cạnh khác nhau cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Theo Trần Kim Dung (2011), quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Trong khi đó, theo Nguyễn Hữu Thân (2008), quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức. Còn Wright et al.
(1994), quản trị nguồn nhân lực là các hoạt động mang tính tổ chức hướng đến việc quản lý những nguồn lực về con người nhằm đảm bảo những nguồn lực này đang được sử dụng để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Trong luận văn này, tác giảsử dụng khái niệm quản trị nguồn nhân lực của Trần Kim Dung vì nó có tính khái quát, tổng hợp và đầy đủ về mọi mặt của vấn đề quản trị nguồn nhân lực, trong đó nhấn mạnh đến việc đạt được kết quả tốt nhất cho cả tổ chức lẫn nhân viên nhằm mục đích có lợi cho tất cả các bên có liên quan trong doanh nghiệp, thể hiện tầm nhìn chiến lược đó là nguồn nhân lực là tài sản quý của tổ chức. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2011) thì quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu về các vấn đề quản trị con người trong các tổ chức và có hai mục tiêu cơ bản đó là: - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức để làm tăng năng suất lao động và tính hiệu quả của tổ chức. - Đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện để nhân viên phát huy hết các năng lực cá nhân, động viên nhân viên tại nơi làm việc và làm cho nhân viên trung thành, tận tâm với doanh nghiệp.
Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế thì quản trị nguồn nhân lực có vai trò giúp cho doanh nghiệp khai thác được năng lực tiềm ẩn của nhân viên, nâng cao năng suất lao động của họ và giúp tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Xét về khía LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cạnh xã hội thì quản trị nguồn nhân lực cho thấy quan điểm rất nhân văn về quyền lợi và giá trị của người lao động, làm cho mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp và người lao động được hài hòa. Nội dung chính của quản trị nguồn nhân lực phân theo chức năng Theo Trần Kim Dung (2011), hoạt động quản trị nguồn nhân lực có liên quan đến các vấn đề thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao nhất cho tổ chức lẫn nhân viên. Các hoạt động này khá phong phú và đa dạng, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển từng tổ chức, tình hình tài chính, đặc điểm cơ cấu, công nghệ kỹ thuật khác nhau đối với từng tổ chức khác nhau.
Hoạt động quản trị nguồn nhân lực có thể chia thành ba nhóm chức năng chủ yếu là: nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực, nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực. Chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực nhấn mạnh vấn đề làm thế nào để doanh nghiệp đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc. Nhóm chức năng này thường có các hoạt động như dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, tuyển dụng. Hoạch định nguồn nhân lực Hoạch định nguồn nhân lực là việc phân tích, xác định nhu cầu nguồn nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân lực với các năng lực, phẩm chất và kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có hiệu quả cao, giúp doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của mình, đồng thời có thể đối phó được với những biến động trên thị trường một cách hiệu quả nhất.
Bên cạnh đó, quá trình hoạch định nguồn nhân lực cần phải được xem xét trong sự liên hệ chặt chẽ với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp. Thông thường, quá trình hoạch định được thực hiện qua một số bước như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ nhất, phân tích môi trường, xác định mục tiêu và chiến lược phát triển, kinh doanh cho doanh nghiệp: Đây là quá trình phân tích môi trường kinh doanh để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa là cơ sở cho việc xác định mục tiêu, chiến lược cho doanh nghiệp nói chung và hoạch định nguồn nhân lực nói riêng. Thứ hai, phân tích hiện trạng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, đề ra chiến lược nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược phát triển kinh doanh: Bởi vì quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp vừa có tính chất hệ thống, vừa có tính chất quá trình nên cần phải phân tích hiện trạng quản trị nguồn nhân lực nhằm xác định được các điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi của doanh nghiệp. Thứ ba, dự báo hoặc xác định khối lượng công việc và tiến hành phân tích công việc.
Thứ tư, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực hoặc xác định nhu cầu nguồn nhân lực: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu nguồn nhân lực như: khối lượng công việc cần thiết phải thực hiện; trình độ và khả năng về sử dụng công nghệ kỹ thuật cũng như sự trang bị về chúng; sự thay đổi về tổ chức hành chính, thay đổi cơ cấu tổ chức… của doanh nghiệp; tỷ lệ nghỉ việc trong nhân viên; yêu cầu về việc phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay yêu cầu nâng cao tay nghề của nhân viên; ngoài ra khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng góp phần ảnh hưởng đến việc thu hút lao động lành nghề trên thị trường lao động. Có thể sử dụng phương pháp định lượng hoặc định tính để có thể dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Các phương pháp định lượng như là: phân tích xu hướng, phân tích tương quan, hồi quy, sử dụng máy tính để dự báo; còn các phương pháp định tính như: phương pháp đánh giá của chuyên gia, phương pháp Delphi hay phương pháp chuyên gia có sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật. Thứ năm, phân tích quan hệ cung cầu nguồn nhân lực, khả năng điều chỉnh, từ đó đề ra các chính sách, kế hoạch thực hiện giúp cho doanh nghiệp phản ứng hợp lý với các tình hình mới và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tiếp theo là thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp: Để đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có đủ và đúng số lượng lao động với các yêu cầu phẩm chất kỹ năng cần thiết và để sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực đó, ngoài việc tuyển dụng, tinh giản biên chế, doanh nghiệp còn phải thực hiện phối hợp các chính sách, kế hoạch quản trị nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khác như: đào tạo và phát triển, trả công, động viên, kích thích… Cuối cùng là kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện: Mục đích của việc này là nhằm xác định các khác biệt giữa kế hoạch và thực hiện, các nguyên nhân dẫn đến các khác biệt, sai lệch đó và đề ra biện pháp để hoàn thiện. Trong bước này thì các đánh giá định lượng thường có tính khách quan hơn và giúp cho doanh nghiệp thấy được các sai lệch đó một cách rõ ràng hơn như số lượng và chất lượng nhân viên, năng suất lao động, tỷ lệ thuyên chuyển nhân viên, chi phí tuyển dụng đối với nhân viên… 1. Phân tích công việc Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định các điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ cũng như trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các yêu cầu về phẩm chất, kỹ năng cần thiết phải có của nhân viên để hoàn thành tốt công việc.