Chương 1: Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và hệ thống giao thông đường bộ 3 thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Chương 2: Lý thuyết tính toán khả năng thông hành tại nút giao. Chương 3: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổ chức giao thông tại nút giao Đèn 4 Ngọn - thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang. Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG I: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ THÀNH PHỐ ONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG 1.1 Giới thiệu chung tỉnh An Giang 1.1 Vị trí địa lý An Giang là tỉnh nằm phía Tây Nam của Việt Nam, giáp với Campuchia.
Là cửa ngõ giao thương giữa vùng ĐBSCL với các nước ASEAN đất liền. Năm phía Tây Nam của Việt Nam, Phía Đông giáp Đồng tháp, Phía Đông Nam giáp TP. Cần Thơ, phía Tây giáp Kiên Giang và Tây Bắc giáp Campuchia. Bản đồ hành chính tỉnh An Giang – Diện tích tự nhiên: 3.537 km2, bằng 1,1% diện tích cả nước.
– An Giang là một trong 4 tỉnh thành vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long. 5 – Cửa ngõ giao thương ĐBSCL với các nước ASEAN: Campuchia – Lào – Thái Lan – Myanmar – Malaysia… – Nối liền trục kinh tế Đông Tây của vùng – khu vực. – Giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100 km, có 2 cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh Xương, 2 cửa khẩu quốc gia Khánh Bình và Vĩnh Hội Đông và 1 cửa khẩu phụ Bắc Đai. Thành phố Long Xuyên là tỉnh lỵ, trung tâm, kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang.
Thành phố nằm bên bờ sông Hậu; Tây Bắc giáp huyện Châu Thành, đường ranh giới dài 12,446 km; Đông Bắc tiếp giáp với huyện Chợ Mới; Tây giáp huyện Thoại Sơn với chiều dài đường ranh giới là 10,054 km; Nam giáp huyện Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ. Về đơn vị hành chính, thành phố hiện bao gồm 11 phường là: Mỹ Long, Mỹ Bình, Mỹ Xuyên, Bình Đức, Bình Khánh, Mỹ Phước, Mỹ Qúy, Mỹ Thới, Mỹ Hòa, Mỹ Thạnh, Đông Xuyên và 2 xã là Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Khánh. Long Xuyên là đô thị sầm uất thứ hai tại miền Tây Nam Bộ chỉ sau thành phố Cần Thơ. Đây là nơi sinh của hai chính trị gia nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam hiện đại: ông Nguyễn Ngọc Thơ - cựu Phó Tổng thống của nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa (trước 30-04-1975) và ông Tôn Đức Thắng - cựu Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau trở thành Chủ tịch đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Long Xuyên là một thành phố trẻ và được xem là động lực phát triển kinh tế của tỉnh An Giang cũng như vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Cơ cấu kinh tế của thành phố là Thương mại - Dịch vụ, Công nghiệp - Xây dựng và Nông nghiệp. Thành phố có nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Cù lao Ông Hổ trên sông Hậu và chợ nổi Long Xuyên là hai địa danh được nhiều người biết đến.
Sơ đồ vị trí thành Phố ong Xuyên [23] Hình 1. Tuyến đƣờng thành Phố ong Xuyên 7 1.2 Kinh tế xã hội [23] Mạng lưới giao thông đường bộ trong tỉnh gổm các tuyến Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường đô thị, đường chuyên dùng, đường xã với tổng chiều dài là 7.243,7 km, bao gồm: Hình 1. thành Phố ong Xuyên Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 2010, tăng 6,52% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,04% (đóng góp 0,65 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 0,55% của năm 2017; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 8,88% (đóng góp 1,29 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 6,38% của năm 2017; khu vực dịch vụ tăng 8,64% (đóng góp 4,49 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 6,50% của năm 2017; thuế sản phẩm trừ trợ giá sản phẩm tăng 5,28% (đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 4,61% của năm 2017.
Cơ cấu kinh tế năm 2018 tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực (tỷ trọng khu vực II, khu vực III tăng dần qua các năm), trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng 28,90%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 14,79%; 8 khu vực dịch vụ chiếm 54,73%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 1,58% (cùng kỳ năm 2017 lần lượt là: 30,22%; 14,38%; 53,78% và 1,61%).1 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tổng giá trị sản xuất (so sánh 2010) ước đạt 42.785 tỷ đồng, tăng 3,47% (tăng 1.436 tỷ đồng) so năm 2017. Cụ thể: - Nông nghiệp a) Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm khoảng 681,2 ngàn ha, đạt 98,1% so kế hoạch và bằng 97,37% (giảm 18,4 ngàn ha) so năm 2017. Trong đó, diện tích lúa là 627,4 ngàn ha, đạt 98,92% kế hoạch và bằng 97,86% (giảm 13,7 ngàn ha) so cùng kỳ; diện tích màu 53,8 ngàn ha, đạt 89,42% kế hoạch và bằng 91,97% (giảm 4,7 ngàn ha) so cùng kỳ. Diện tích sản xuất giảm do một phần diện tích chuyển sang trồng cây ăn quả, nuôi thủy sản, chuyển từ màu ngắn ngày sang trồng màu dài ngày, thực hiện đo đạc lại diện tích đất nông nghiệp, xây dựng khu dân cư và công trình phúc lợi xã hội, lưu vụ để điều chỉnh lịch thời vụ.
Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 62,5 tạ/ha, tăng 3,29% (tăng 1,99 tạ/ha so cùng kỳ. Tổng sản lượng lúa cả năm đạt hơn 3,92 triệu tấn, tăng 42 ngàn tấn. Diện tích trồng mới cây lâu năm tiếp tục được mở rộng, đến nay toàn tỉnh có 16,4 ngàn ha, tăng 7,99% (tăng 1.210 ha) so với năm 2017; trong đó, diện tích cho sản phẩm ước khoảng 11,9 ngàn ha, tăng 8,93% (tăng 973 ha) so năm trước. Tổng sản lượng các loại cây lâu năm đạt gần 209 ngàn tấn, tăng 10,82% (tăng 20,4 ngàn tấn so với năm 2017).
b) Chăn nuôi: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm đạt khoảng 29.529 tấn, bằng 98,3% so cùng kỳ (trong đó: Sản lượng thịt heo đạt 15.609 tấn, bằng 99,13%; thịt gia cầm đạt 6.639 tấn, bằng 105,3%); sản lượng trứng gia cầm gần 368 triệu quả, bằng 101,8% so cùng kỳ. Do cuối năm 2017, giá cả tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi ở mức thấp người nuôi không có lãi, bỏ chuồng nhiều, nhưng đến giữa năm 2018 có dấu hiệu khởi sắc v à giữ ở mức cao, nhưng do tâm lý ngại dịch bệnh đang bùng phát, đồng thời giá cả tiêu thụ không ổn định nên đàn chăn nuôi chậm được khôi phục. 9 - Lâm nghiệp: Tập trung công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng vào mùa khô; bước sang mùa mưa thực hiện trồng cây phân tán được gần 3,295 triệu cây, bằng 95,09% so cùng kỳ. Đã xảy ra 01 vụ cháy rừng với diện tích 200 m2 tại đồi 1 núi Phú Cường (TT.
Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên) thiệt hại không đáng kể; phát hiện 19 vụ vi phạm (giảm 19 vụ so cùng kỳ), đã phạt tiền và tịch thu tang vật, với số tiền 14 triệu đồng, 7,2 m3 gỗ và nhiều loại động vạt hoang dã khác. + Thủy sản: Diện tích thuỷ sản thu hoạch cả năm khoảng 1.726 ha, tăng 12,79% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích cá tra 1.138 ha, tăng 13,6% so cùng kỳ. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng thu hoạch cả năm được khoảng 453 ngàn tấn, tăng 16,6% so cùng kỳ.
Trong đó, cá tra 353 ngàn tấn, tăng 19,9%. Năm nay lũ lớn, nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên khai thác có phần tăng hơn so cùng kỳ, ước sản lượng thuỷ sản khai thác được khoảng 23 ngàn tấn, tăng 3,8% so cùng kỳ. + Xây dựng nông thôn mới: Dự ước đến cuối năm 2018 có 46/119 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 13 xã so với năm 2017, vượt 03 xã so với kế hoạch đề ra. Ngày 14/11/2018, thành phố Châu Đốc được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2017 theo Quyết định số 1552/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.2 Công nghiệp – Xây dựng + Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) tăng 8,78% so cùng kỳ năm trước, trong đó, tăng cao hơn mức tăng chung và cao nhất là ngành chế biến, chế tạo tăng 9,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,91%; ngành sản xuất, phân phối điện và nước đá tăng 4,84% và ngành khai khoáng tăng 1,28%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so cùng kỳ năm trước là: Gạo xay xát tăng 19,5%; thuốc lá có đầu lọc tăng 10,3%; bê tông tươi trộn sẳn tăng 37%; điện thương phẩm đạt 2.883 triệu Kwh, tăng 6,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp cả năm đạt 39.542 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 8,04% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành khai khoáng đạt 782 tỷ đồng, tăng 4,55%; chế biến, chế tạo đạt 37.674 tỷ đồng, tăng 8,19%; sản 10 xuất, phân phối điện và nước đá đạt 674 tỷ đồng, tăng 4,01%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải đạt 412 tỷ đồng, tăng 8,14%. + Đầu tƣ - Xây dựng Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh 2010 cả năm đạt 7.634 tỷ đồng, tăng 8,6% so cùng kỳ năm trước; giá trị sản xuất theo giá hiện hành đạt 10.874 tỷ đồng, tăng 15,8%. Giá trị giải ngân cả năm 2018 được 4.510 tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch vốn giao đầu năm (4.513 tỷ đồng) và đạt 90% kế hoạch vốn điều chỉnh 6 tháng cuối năm 2018 (5.
Tỷ lệ giải ngân 90% bằng với cùng kỳ năm 2017 (năm 2017 đạt 90,01%). Trong đó: (1) nguồn vốn đầu tư tập trung 1.091 tỷ đồng, đạt 96,23% kế hoạch; (2) nguồn vốn thu sử dụng đất 247 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch; (3) Nguồn vốn xổ số kiến thiết 1.909 tỷ đồng, đạt 97,13% kế hoạch; (4) vốn ngân sách trung ương 456 tỷ đồng, đạt 97,32% kế hoạch; (5) vốn Trái phiếu Chính phủ 400 tỷ đồng, đạt 59,71% kế hoạch; (6) vốn nước ngoài 407 tỷ đồng, đạt 77,72% kế hoạch. Nguyên nhân ước giải ngân cả năm đạt 90% là do nguồn vốn trái phiếu chính phủ và vốn ODA dự kiến cuối năm giải ngân không đạt 95%. Tính đến hết ngày15/11/2018, vốn trái phiếu Chính phủ giải ngân được 230/670 tỷ đồng, đạt 34,32% và vốn ODA giải ngân được 193/523 tỷ đồng, đạt 36,9%.3 Hoạt động Dịch vụ - Du lịch + Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 102.701 tỷ đồng, tăng 11,17% so năm trước.
Phân theo ngành hoạt động: Ngành thương nghiệp bán lẻ đạt 72.809,5 tỷ đồng, tăng 11,16%; ngành lưu trú, ăn uống đạt 21.