CHƯƠNG I TÍN DỤNG VỚI SU PHÁT TRIEN NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM 1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn ở nước ta. Vai trò cua nông nghiệp và nông thôn trong nên kinh tế quốc dán. Thực tiễn phát triển kinh tế từ tình trạng lạc hậu đến văn minh và tiến bộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã cho thấy: Phạm trù kinh tế nông thôn với nội dung kinh tế là sản xuất nông nghiệp, bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản chỉ mang lại ý nghĩa lịch sử.
Ở giai đoạn đầu khi công nghiệp còn chưa phát triển, kinh tế nông thôn giữ vị trí bao trùm, song cùng với sự gia tăng mức độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nền kinh tế, kinh tế nông thôn dần thu hẹp cả về nội dung sản xuất nông nghiệp và không gian lãnh thổ. Hoạt động nông nghiệp đã có từ hàng nghìn năm kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn, hái lượm tự nhiên để kiếm sống. Vì vậy lịch sử phát triển sản xuất nông nghiệp là lâu đời, chứa đựng nhiều yếu tố truyền thống, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các điều kiện tự nhiên như: đất đai, môi trường sinh thái và đặc điểm sinh học của cây trồng, vật nuôi. Trong khi các điều kiện này lại rất khác nhau giữa các vùng.
do đó làm cho tính chất của sản xuất (phương thức canh tac) có điểm On giống nhau đồng thời rất khác nhau giữa các vùng lãnh thổ. Đặc điểm trên đây làm cho kinh tế nông thôn mang tinh bảo tồn rất cao, cham, khó thay đổi những phương pháp sản xuất truyền thống, mặc dù trong những điều kiện nhất định đã tự thể hiện tính lỗi thời. Tuy nhiên trên quan điểm phát triển để xem xét thì kinh tế nông thôn có xu hướng chuyển dịch dần sang kinh tế đô thị dưới tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá. Sự thâm nhập các hoạt động phi nông nghiệp và nông thôn sẽ biến đổi cơ sở hạ tầng kinh tế và chuyển dịch dần lao động nông nghiệp thuần tuý cổ truyền sang các dạng hoạt động khác.
Lý luận và thực tế đã chứng minh rang nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế trừ một vài ngoại lệ có tính đặc thù rất cao, hầu hết các nước đã phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo ra một sản lượng thực phẩm cần thiết, đủ nuôi sống dân tộc mình và tạo nền tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế khác phát triển. Ngay từ thế ky 16 trên thế giới đã hình thành một trường phái kinh tế lấy nông nghiệp làm nền tảng để phát triển kinh tế - đó là trường phái trọng nông do Pierr Boisgui Cleberl (1646 - 1714) khởi xướng và được Fran sois Quesnay và Bobert Jacques Turgor (1727 - 1771) phát triển thêm ở Pháp. Quan điểm của trường phái này cho rằng nông nghiệp có vị trí rất cao trong nền kinh tế và là lĩnh vực duy nhất tạo ra sản phẩm thuần tuý cho xã hội, vì vậy muốn giàu có phải phát triển nông nghiệp. Thực tế cho thấy trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế.
nông nghiệp vừa là ngành tạo ra vật phầm tiêu dùng thiết yếu cho con người, vừa có vai trò làm cơ sở cho quá trình công nghiệp hoá thỏng qua: - Cung cấp nguồn vốn lớn. tạo tích luỹ. - Cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp. - Cung cấp lao động.
- Là thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù học thuyết kinh tế trọng nông không hoàn toàn đúng với tất cả các nước, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thế giới đã phát triển ở mức độ cao và tính toàn cầu rộng, song nó vẫn có giá trị đối với các nước chậm phát triển và đang phát triển lên xã hội công nghiệp hoá có điểm xuất phát là kinh tế nông nghiệp. Nhiều học giả kinh tế hiện đại còn cho rằng: "Đối với những quốc gia này nông nghiệp là nguồn vốn chính, thậm chí là nguồn vốn duy nhất trong các giai đoạn sơ khai của sự phát triển:"”. Tuy nhiên cần nhìn nhận rằng vai trò của nông nghiệp chỉ là "điểm tựa", "là cơ sở ban đầu cho một xã hội công nghiệp" bởi lẽ chỉ riêng thu nhập từ nông nghiệp sẽ không thể đủ tích luy cho công nghiệp hoá.
Nông nghiệp dưới dạng sơ khai ban đầu cua nó không thể đóng góp vào quá trình xây dựng xã hội văn minh hiện đại, sẽ không phải là yếu tố chủ yếu của quá trình phát triển kinh tế !?”, Su vận động của sản xuất nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch kinh tế nông thôn sang các hoạt động có tính công nghiệp và dịch vụ mang những đặc thù đối với từng nước. Theo giáo sư Randolph Barker, U5Ì quá trình này có thể chia thành 3 giai đoạn từ thấp đến cao: - Giai đoạn 1: Được đặc trưng bởi tình trạng dư thừa đất canh tác. gắn với sự trợ giúp kỹ thuật để mở rộng các vùng đất canh tác mới. - Giai đoạn 2: Được đặc trưng bởi sự dư thừa vé lao động, do dan số tăng nhanh, diện tích canh tác không tăng, làm cho bình quân diện tích canh tác trên mỗi người dân nông nghiệp giảm nhanh, năng suất lao động thấp.
Điều kiện để tăng năng suất trong giai đoạn này là: Đầu tư cao vào đất sản xuất và ứng dụng nhanh các kỹ thuật canh tác, tiết kiệm đất. - Giai đoạn 3: Được đặc trưng bởi tình trạng thiếu lao động do các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh, thu hút nhiều lao động, lực lượng lao động nông nghiệp giảm nhanh, bình quân đất canh tác/lao động tăng lên. Trong giai đoạn này chính sách ứng xử đối với nông nghiệp là tăng cường sử dụng các kỹ thuật sản xuất tiết kiệm lao động, đạt tới mức năng suất lao động cao và tiền công trong nông nghiệp tăng lên. Đối với những nước nông nghiệp nói chung, có thể nói một nền nông nghiệp đình đốn sẽ kéo theo sự trì trệ và lạc hậu của các ngành khác trong đó có công nghiệp, đến phần mình nền công nghiệp lạc hậu lại không thể là "bà đỡ" tốt cho nông nghiệp vươn lên hiện đại và tiên tiến.
Nông nghiệp đình đốn luôn kéo theo 2 hạn chế lớn đó là: - Không gia tăng được sản lượng nông sản để đáp ứng nhu cầu của nhân dân và xuất khẩu (sản phẩm nông nghiệp), nền kinh tế đứng trước khó khăn về ngoại tệ, không đáp ứng được nhu cầu của nhập khẩu. - Sự trì trệ trong sản xuất nông nghiệp làm cho nông dân thu nhập thấp, nghèo nàn. sức mua kém dan đến thu hẹp thị trường teu thụ các sản phẩm cong nghiệp. khong kích thích cong nghiệp.
Do vậy nếu xem nhẹ phát triển nông nghiệp trong giai đoạn một và phần đầu của giai đoạn hai trong tiến trình phát triển sẽ dẫn đến hậu quả là nông nghiệp trì trệ, và ảnh hưởng tiêu cực tốc độ phát triển công nghiệp cũng như sự tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Chính sách kinh tế đối với nông nghiệp và nông thôn trong các giai đoạn ban đầu của sự phát triển cần phải đặt trọng tâm vào tăng trưởng, nhằm bảo đảm thoả mãn nhu cầu của nhân dân về nông sản, tăng xuất khẩu và đáp ứng các yêu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp phát triển. Học thuyết kinh tế của Mác - Anghen khi nghiên cứu về sự phát triển của CNTB vào lĩnh vực nông nghiệp ở các nước Pháp và Đức vào những năm cuối thế kỷ 17 đã chỉ ra rằng: Về mặt kinh tế sự phát triển tiến tới cách mạng trong nội bộ ngành nông nghiệp có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tích tụ tư bản, đồng thời hình thành thị trường trong nước cho chính các nhà tư bản công nghiệp và cung cấp lao động cho họ. Mác viết: "Việc tước đoạt và đuổi một bộ phận dân cư nông thôn ra khỏi ruộng đất của họ không những giải phóng công nhân, giải phóng tư liệu sinh hoạt và tư liệu lao động của họ cho nhà tư bản công nghiệp CỀ : x ⁄ ~_ n [l, S7 À mà còn tạo ra thị trường trong nước nữa bs Ở đây su tác động của tư bản công nghiệp và nông thôn đã biến nông dân thành người làm thuê, biến tư liệu sinh hoạt và tư liệu lao động của họ thành đối tượng cho phát triển công nghiệp và đồng thời quay lại phục vụ họ.
Trên giác độ đó chính nông dân. nông nghiệp đã là nền tảng tiếp tục cho nhà tư bản tích luỹ và mở rộng sản xuất. Nhà tư bản đã vừa biến nông dân thành công nhân làm thuê, đồng thời biến tư liệu sinh hoạt và tư liệu lao động của những nông dân này thành "yếu tố vật thể” của tư bản. Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học quản lý đã tạo ra những ngành nghề mới phát triển cả bé rộng lẫn bề sâu, tỷ trọng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn ngày càng thấp hơn so với các ngành khác; tuy nhiên về số tuyệt đối sản xuất nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên.
Sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn góp phần ổn định kinh tế vào chính trị của mỗi quốc gia. Tóm lại Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, do đó việc phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn có vị trí, vai trò hết sức quan trọng và thể hiện qua các mặt sau: Một là: Nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế; là nơi tập trung gắn bó nhiều ngành kinh tế: Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; là thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp, dịch vụ và khu vực đô thị: Lực lượng lao động, nhu yếu phẩm cho sinh hoạt, nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời là thị trường rộng lớn cho tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp, dịch vụ, khoa học - kỹ thuật. Hai là: Nông thôn Việt Nam là nơi sinh sống của cộng đồng các dân tộc, tầng lớp tôn giáo là nơi bảo tồn và lưu giữ các truyền thống, phong tục; sự phát triển của nông thôn góp phần làm ổn định nền chính trị - xã hội. 10 Ba là: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn góp phần to lớn đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân nói chung, hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý.
Quan điểm phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn ở nước ta.