Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Việt Nam là một trong những trọng tâm cải cách kinh tế quan trọng. Tính đến hết tháng 8 năm 2006, cả nước đã sắp xếp được 4.447 doanh nghiệp, trong đó thực hiện cổ phần hóa hơn 3.000 đơn vị. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn 2007 - 2009, tiến độ chuyển đổi sở hữu có dấu hiệu chững lại rõ rệt. Đến tháng 6 năm 2009, toàn quốc vẫn còn 1.546 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước với tổng giá trị vốn lên tới 410 nghìn tỷ đồng chưa hoàn tất cổ phần hóa trước thời hạn 01 tháng 07 năm 2010. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh từ những vướng mắc phức tạp trong công tác định giá tài sản, đặc biệt là quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý của doanh nghiệp.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa khung pháp lý, đánh giá thực trạng công tác định giá bất động sản trong các giai đoạn cổ phần hóa từ năm 1992 đến năm 2009, bóc tách nguyên nhân khiến tiến độ sắp xếp bị đình trệ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi. Phạm vi không gian của luận văn tập trung vào các đô thị lớn, trọng tâm là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nơi tập trung quỹ đất có giá trị thương mại vượt trội. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để gỡ bỏ nút thắt định giá, hạn chế nguy cơ thất thoát vốn nhà nước nhưng không làm triệt tiêu động lực tham gia của nhà đầu tư, hỗ trợ khối DNNN nâng cao hiệu quả hoạt động khi tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của hơn 45% tập đoàn, tổng công ty thời điểm năm 2008 đang ở mức dưới 10%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết về giá trị tài sản và định giá bất động sản theo chuẩn mực quốc tế và pháp luật Việt Nam. Khái niệm bất động sản được tiếp cận theo Điều 174 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Đất đai năm 2003, xác lập tính chất sở hữu toàn dân đối với đất đai do Nhà nước đại diện quản lý, phân biệt rõ giữa quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Luận văn áp dụng đồng thời khái niệm giá trị thị trường theo Quyết định số 24/2005/QĐ-BTC (Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 01) và giá trị phi thị trường theo Quyết định số 77/2005/QĐ-BTC (Tiêu chuẩn số 02).

Quá trình định giá tài sản doanh nghiệp được soi chiếu qua 11 nguyên tắc định giá tại Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 06, nổi bật là nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất, nguyên tắc cung cầu, nguyên tắc đóng góp và nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai. Hệ thống công cụ thẩm định giá căn cứ theo Quyết định số 129/2008/QĐ-BTC, bao gồm 5 phương pháp trụ cột: phương pháp so sánh (TĐGVN 07), phương pháp chi phí (TĐGVN 08), phương pháp thu nhập (TĐGVN 09 bao gồm vốn hóa trực tiếp và chiết khấu dòng tiền DCF), phương pháp thặng dư (TĐGVN 10) và phương pháp lợi nhuận (TĐGVN 11). Đồng thời, tác giả tích hợp các mô hình quản lý đất đai từ kinh nghiệm của Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản và Đức để xây dựng cơ sở đối sánh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn được trích xuất từ các báo cáo chính thức của Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong giai đoạn 1992 - 2009. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát số liệu tổng hợp của 3.494 doanh nghiệp nhà nước còn tồn tại đến năm 2007, kết hợp phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) với 5 trường hợp điển hình đại diện cho các vướng mắc định giá đất đai (gồm Công ty Kem Tràng Tiền, Công ty Xuất nhập khẩu Intimex, Công ty TNHH một thành viên Bến xe Miền Đông, Công ty Đầu tư Hạ tầng Sài Gòn và Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Du lịch Bến Thành), cùng chuỗi dữ liệu biến động giá đất tại 12 tuyến đường đô thị tiêu biểu.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh định tính kết hợp thống kê mô tả và mô hình chiết khấu dòng tiền là nhằm nhận diện độ lệch giữa khung giá đất nhà nước và giá giao dịch thực tế trên thị trường tự do. Phương pháp này cho phép bóc tách bản chất tác động của các văn bản quy phạm pháp luật qua từng thời kỳ (Nghị định 44/1998/NĐ-CP, Nghị định 64/2002/NĐ-CP, Nghị định 187/2004/NĐ-CP và Nghị định 109/2007/NĐ-CP). Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ khi thí điểm cổ phần hóa năm 1992 đến thời điểm năm 2009, tập trung phân tích sâu các đột biến số liệu tài chính sau khi Thông tư 146/2007/TT-BTC có hiệu lực thi hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ cổ phần hóa DNNN sụt giảm mạnh mẽ trong giai đoạn 2007 - 2009. Năm 2007, cả nước chỉ hoàn thành cổ phần hóa 116 doanh nghiệp, đạt 21% so với kế hoạch; năm 2008 chỉ đạt 98 doanh nghiệp, tương đương 25% chỉ tiêu; và đến năm 2009 con số này giảm xuống còn 60 doanh nghiệp. Nguyên nhân trọng yếu bắt nguồn từ các vướng mắc khi áp dụng quy định mới về định giá tài sản đất đai.

Thứ hai, khoảng cách chênh lệch giữa khung giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường là rất lớn. Khảo sát tại Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2004 đến năm 2009 cho thấy: đối với đường loại 2, khung giá nhà nước chỉ tăng từ 1,0 triệu đồng/m2 lên 4,1 triệu đồng/m2, trong khi giá thị trường thực tế leo thang từ 5,8 triệu đồng/m2 lên tới 22,2 triệu đồng/m2 (chênh lệch gấp hơn 5,4 lần). Tương tự, tại tuyến đường Đồng Khởi, Quận 1, năm 2007 giá giao dịch thực tế đạt 370 - 400 triệu đồng/m2 (tương đương 28 - 30 lượng vàng SJC/m2), trong khi khung giá quy định của thành phố năm 2008 chỉ là 67,5 triệu đồng/m2 và năm 2009 là 81 triệu đồng/m2, thấp hơn giá thị trường gần 5 lần.

Thứ ba, quy định tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP làm quy mô tài sản của doanh nghiệp tăng đột biến hàng chục lần. Điển hình tại Công ty TNHH một thành viên Bến xe Miền Đông, khi xác định theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP giá trị doanh nghiệp là 60 tỷ đồng (lợi thế kinh doanh 9 tỷ đồng), nhưng khi tính lại theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP, giá trị doanh nghiệp vọt lên 1.121 tỷ đồng với lợi thế kinh doanh chiếm tới 1.052 tỷ đồng, tăng gấp 31,4 lần. Tại Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành, mức chênh lệch tài sản xác định lại tăng thêm khoảng 800 tỷ đồng; Công ty Đầu tư Hạ tầng Sài Gòn tăng từ 6 tỷ đồng lên 32 tỷ đồng.

Thứ tư, việc đội vốn cơ học làm suy giảm nghiêm trọng hiệu quả tài chính sau cổ phần hóa. Khi giá trị lợi thế vị trí địa lý được ghi nhận là tài sản vô hình và phải trích khấu hao hàng năm cộng với tiền thuê đất thực tế, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp bị kéo giảm xuống chỉ còn khoảng 1,9% (thấp hơn nhiều so với mức trung bình ngành từ 10% đến 20%), khiến việc phát hành cổ phần ra công chúng bị thất bại.

Thảo luận kết quả

Diễn biến dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan thông qua bảng đối chiếu giá trị doanh nghiệp trước và sau Nghị định 109/2007/NĐ-CP cùng biểu đồ đường thể hiện khoảng cách ngày càng doãng rộng giữa khung giá đất nhà nước và giá đất giao dịch thị trường tại khu vực đô thị mới Thủ Thiêm giai đoạn 2004 - 2009. Thực tế này phản ánh sự lúng túng trong hoạch định chính sách: trước năm 2004, việc bỏ qua giá trị đất dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước (như trường hợp Kem Tràng Tiền định giá chỉ 3,2 tỷ đồng cho khu đất 1.500 m2 giữa trung tâm Hà Nội); nhưng sau năm 2007, việc cộng cơ học chênh lệch địa tô vào giá trị doanh nghiệp thuê đất lại đẩy doanh nghiệp vào thế bế tắc kinh doanh.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, Thái Lan đã giải quyết triệt để vấn đề định giá đất nhờ hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính số hóa kết nối mạng quốc gia, trong khi Cộng hòa Liên bang Đức định kỳ 1 đến 2 năm lại công bố giá giao dịch bất động sản bình quân cho từng khu vực. Tại Việt Nam, sự thiếu vắng của một thị trường giao dịch minh bạch cùng hệ thống văn bản pháp lý chồng chéo (sự xung đột giữa Điều 63 Nghị định 181/2004/NĐ-CP và Nghị định 187/2004/NĐ-CP) là nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng định giá cảm tính, cản trở việc sắp xếp khối tài sản 1.241 nghìn tỷ đồng của khu vực kinh tế nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, bãi bỏ quy định tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp đối với đất thuê. Chính phủ và Bộ Tài chính cần sớm sửa đổi Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Thông tư 146/2007/TT-BTC theo hướng tách bạch quyền sở hữu đất đai với giá trị nội tại của doanh nghiệp. Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa nên được khẳng định thông qua cơ chế đấu giá công khai trên thị trường chứng khoán thay vì áp đặt định giá chủ quan. Thời hạn hoàn thành kiến nghị trong quý II năm 2010 nhằm giải tỏa ách tắc cho 100% doanh nghiệp đang chờ chuyển đổi.

Thứ hai, điều chỉnh khung giá đất và chính sách thu tiền thuê đất sát với giá trị thị trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, nâng mức khung giá đất nhà nước đạt tối thiểu 70% đến 80% giá thị trường thực tế trong điều kiện bình thường. Đồng thời, thay vì thu trước một lần giá trị địa lý, cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế tính lại tiền thuê đất hàng năm theo giá thị trường, vừa đảm bảo chống thất thoát ngân sách định kỳ, vừa không tạo áp lực trích khấu hao tài sản vô hình lên chi phí doanh nghiệp.

Thứ ba, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường bất động sản quốc gia và chuẩn hóa quy trình thẩm định giá. Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng mạng lưới theo dõi, công khai giá chuyển nhượng bất động sản thực tế tại từng địa phương tương tự mô hình quản lý của Thái Lan và Đức. Mục tiêu giảm biên độ sai lệch trong các chứng thư thẩm định giá độc lập xuống dưới mức 10%, tạo căn cứ khách quan cho các hội đồng thẩm định giá nhà nước phê duyệt phương án cổ phần hóa.

Thứ tư, sớm nghiên cứu và ban hành Luật Thuế nhà đất nhằm điều tiết khối cung - cầu bất động sản. Quốc hội và Bộ Tài chính cần đẩy nhanh lộ trình lập pháp trong giai đoạn 2010 - 2012, áp dụng các công cụ thuế lũy tiến đối với hành vi đầu cơ đất đai xung quanh các dự án doanh nghiệp nhà nước di dời. Giải pháp này giúp triệt tiêu hiện tượng thâu tóm cổ phiếu chỉ nhằm mục đích chiếm dụng mặt bằng kinh doanh, hướng dòng vốn đầu tư vào nâng cao năng lực sản xuất thực chất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cùng các cơ quan quản lý vĩ mô (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Tài liệu cung cấp góc nhìn toàn diện về lỗ hổng chính sách tài chính - đất đai, giúp hoàn thiện khung khổ pháp lý cho giai đoạn tái cơ cấu kinh tế tiếp theo.

Thứ hai, Hội đồng thành viên, Ban Giám đốc và Ban chỉ đạo cổ phần hóa tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Nghiên cứu mang lại cẩm nang thực tiễn giúp nhận diện rủi ro đội vốn, tính toán phương án sử dụng đất (giao đất hay thuê đất) tối ưu nhất về mặt chi phí và khả năng chào bán cổ phần.

Thứ ba, các thẩm định viên về giá, kiểm toán viên tại các công ty thẩm định giá và tổ chức tư vấn tài chính. Luận văn cung cấp phương pháp luận chi tiết và các case study thực tế trong việc hòa hợp các phương pháp thẩm định giá tài sản gắn liền với đất theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản lý đất đai. Đây là nguồn tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian phong phú, phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan đến thị trường bất động sản và cổ phần hóa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc định giá đất trong cổ phần hóa giai đoạn trước năm 2002 lại gây thất thoát tài sản nhà nước? Giai đoạn này khung pháp lý không quy định tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp. Các đơn vị cổ phần hóa chỉ nộp tiền thuê đất rất thấp nhưng được tiếp tục khai thác các lô đất vàng trung tâm. Điển hình như Kem Tràng Tiền sở hữu 1.500 m2 mặt bằng đắc địa nhưng giá trị doanh nghiệp chỉ được định mức 3,2 tỷ đồng.

Điểm nghẽn lớn nhất của Nghị định 109/2007/NĐ-CP đối với công tác cổ phần hóa là gì? Quy định bắt buộc doanh nghiệp thuê đất đô thị phải tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp. Điều này khiến quy mô tài sản bị thổi phồng đột biến (như Bến xe Miền Đông tăng 31,4 lần), làm tăng chi phí khấu hao tài sản vô hình và khiến cổ phần chào bán không có người mua.

Tại sao không nên tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp khi chọn hình thức thuê đất? Doanh nghiệp thuê đất không có quyền định đoạt, chuyển nhượng khu đất và có thể bị thu hồi khi Nhà nước thay đổi quy hoạch. Việc bắt doanh nghiệp ghi nhận tài sản vô hình không thuộc quyền sở hữu của mình sẽ bóp méo bảng cân đối kế toán và làm sụt giảm tỷ suất sinh lời ROE xuống dưới 2%.

Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm định giá bất động sản nào từ Thái Lan và Cộng hòa Liên bang Đức? Việt Nam cần học tập Thái Lan trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ số hóa để quản lý giá đất thống nhất toàn quốc. Đồng thời, áp dụng mô hình của Đức trong việc định kỳ 1 đến 2 năm khảo sát, tổng hợp và công bố công khai giá giao dịch bình quân theo từng phân vùng đô thị.

Những phương pháp thẩm định giá nào được áp dụng phổ biến nhất khi xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa? Hai phương pháp nền tảng được quy định là phương pháp tài sản (kết hợp định giá công trình xây dựng theo suất đầu tư) và phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF). Đối với bất động sản cụ thể, thẩm định viên thường kết hợp phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp chi phí và phương pháp thặng dư.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa công tác định giá bất động sản và tốc độ cổ phần hóa DNNN tại Việt Nam qua các mốc lịch sử từ năm 1992 đến năm 2009.
  • Chỉ rõ sự bất cập mang tính chu kỳ của chính sách: từ việc bỏ sót giá trị đất gây thất thoát vốn sang việc áp đặt cơ học lợi thế vị trí địa lý làm đình trệ tiến độ cổ phần hóa.
  • Cung cấp hệ thống chứng cứ định lượng vững chắc với các case study thực tế (Bến xe Miền Đông, Intimex, Kem Tràng Tiền) và chuỗi dữ liệu giá đất đô thị biến động gấp 5 đến 6 lần khung giá nhà nước.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ, trọng tâm là bãi bỏ việc tính giá trị lợi thế đất thuê vào vốn doanh nghiệp và hoàn thiện cơ chế đấu giá công khai.
  • Khuyến nghị các cơ quan lập pháp và cơ quan điều hành sớm sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2010 - 2012 để kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn cho 1.546 doanh nghiệp nhà nước còn lại.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cấp thiết cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và giới học thuật trong nỗ lực nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công và thúc đẩy thị trường tài chính phát triển minh bạch, bền vững.