CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở TP. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC MẶT Ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Do tiếp nhận nhiều loại nguồn thải, môi trường nước mặt đang ở tình trạng ô nhiễm tại nhiều nơi, tùy theo đặc trưng của từng khu vực khác nhau. Tuy nhiên, ở nước ta chỉ có 4 nguồn thải chính tác động đến môi trường nước mặt: nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp, sinh hoạt và y tế.
Mức độ gia tăng các nguồn nước thải hiện nay ngày càng lớn với quy mô rộng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước. Hệ thống sông và kênh rạch tại TPHCM TPHCM nằm trong lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai, đây là nguồn cấp nước chính trong lưu vực, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, ngoài ra còn phục vụ cho việc tưới tiêu và giao thông vận tải thủy. Sông Đồng Nai là con sông lớn thứ hai ở Việt Nam. Bắt nguồn từ Cao Nguyên trung bộ, gần Đà Lạt, sông Đồng Nai chảy dài trên 300km trước khi đi vào địa phận Thành phố.
Lưu vực của nó có diện tích 28.000 km2 bao gồm tỉnh Đồng Nai và một phần Bình Dương, Bình Phước và Lâm Đồng và phần lớn tỉnh Bình Thuận và Đắc Lắc. Sông Sài Gòn trải dài 220km từ thượng nguồn trước khi kết hợp với sông Đồng Nai tạo thành sông Nhà Bè, với một lưu vực rộng 4.500km2 bao gồm các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và TPHCM. Hiện nay trong nội đô Thành phố Hồ Chí Minh có 5 hệ thống kênh có tổng chiều dài chính là 56km và 36km của các chi lưu, bao gồm: 1. Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè 9.
Kênh Tàu Hủ - Đôi – Tẻ 19. Kênh Bến Nghé 5. Kênh Tân Hóa – Ông Buông – Lò Gồm 7. Kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật 14.040m SVTH: Lê Công Hoàn Vũ 9 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.
THÁI VĂN NAM Ngoài những hệ thống này còn có một vài hệ thống kênh hở khác như: Suối Cái, Xuân Trường tại quận Thủ Đức và An Hạ, Xáng tại huyện Bình Chánh. Tất cả các hệ thống kênh này được dùng làm nơi tiếp nhận nước thải. Nguồn gây ô nhiễm nước mặt tại TPHCM Hệ thống lưu vực sông Đồng Nai, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển KT – XH của các tỉnh, thành phố vùng Đông Nam bộ. Hệ thống này vừa là nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt và hầu hết các hoạt động kinh tế trên lưu vực nhưng đồng thời cũng vừa là môi trường tiếp nhận và vận chuyển các nguồn đổ thải trên lưu vực.
Chức năng cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp vốn là chức năng quan trọng hàng đầu của hệ thống các sông trong khu vực, hiện đang bị đe dọa trực tiếp bởi các hoạt động công nghiệp, sinh hoạt, làng nghề và các tác động bởi hoạt động phát triển thủy điện, thủy lợi…Trong đó, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đóng góp tỷ lệ lớn nhất với tải lượng các chất gây ô nhiễm cao nhất.1: Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp trên LVS Đồng Nai Tên nguồn thải Tải lượng (kg/ngày) DO SS TSS COD BOD5 NO2- NO3- Sunfua Các KCN 118 1.010 121 452 0,4 Các doanh nghiệp ngoài 4.097 99 764 9,82 KCN Các doanh nghiệp nằm trong KCN xả 472 11.18 thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận SVTH: Lê Công Hoàn Vũ 10 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS. THÁI VĂN NAM Các doanh nghiệp nằm trong KCN xả 148 9.190 3,48 892,59 0,96 thải qua trạm xử lý nước của KCN Tổng cộng 5.243 12,37 Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2012 Thành phố Hồ Chí Minh là vùng có mức độ đô thị hóa cao nhất cả nước. Đây cũng là khu vực có tỷ lệ dân cư sống ở các đô thị cao nhất nước, mật độ dân số cao thứ nhì cả nước (631 người/km2). Khu vực này luôn là địa điểm hu hút các luồng di dân, là vùng nhập cư cao nhất với tỷ suất di cư thuần là 107,7%.
Các KCN tập trung có sức hút mạnh mẽ nhiều người chuyển đến làm ăn sinh sống. Chính vì vậy, nước thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất cao trong số các nguồn thải của khu vực [2]. Trong số các nguồn tiếp nhận nước thải đô thị, sông Sài Gòn tiếp nhận lượng chất thải nhiều nhất với 76,21% tổng lượng nước thải và 66,6% tổng tải lượng BOD5. Đây là một trong những nguồn thải cơ bản nhất gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực, đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm do dầu mỡ, chất hoạt động bề mặt và vi trùng gây bệnh.
Tuy nhiên cho đến nay, trong tất cả các đô thị trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai chỉ có Tp. Hồ Chí Minh triển khai lắp đặt một số hệ thống xử lý nước thải tập trung. Bên cạnh nguồn nước thải sinh hoạt, Tp. Hồ Chí Minh là vùng có lượng phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước, số lượng KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung gần như 100% nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, đó cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước.
Hàng ngày, hệ thống sông và kênh rạch tại thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận khoảng 550.000m3 nước thải, bao gồm khoảng 500.000m3 nước thải sinh hoạt và khoảng 50.000m3 nước thải công nghiệp. Với tổng lượng nước thải như vậy có thể SVTH: Lê Công Hoàn Vũ 11 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS. THÁI VĂN NAM ước tính tải lượng các chất gây ô nhiễm như sau: 590 tấn chất rắn lơ lửng, 270 tấn BOD, 480 tấn COD, 50 tấn Ni-tơ, 14 tấn Phospho, 110 tấn dầu mỡ gốc động thực vật. Hầu hết lượng nước thải này không được xử lý trước khi thải vào các kênh, sông.
Đây cũng là lý do tại sao nước thải ở những dòng kênh này luôn có màu đen và có mùi hôi thối. Tất cả các con kênh đều bị chiếm dụng bởi những khu nhà ổ chuột dọc theo bờ kênh. Theo số liệu thống kê cho thấy có khoảng 24.000 căn nhà ở ven và trên kênh rạch. Hàng trăm ngàn dân cư sống ở đây không có những điều kiện vệ sinh tối thiểu; tất cả các chất thải hàng ngày được thải vào sông rạch gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Khu vực biển miền Đông Nam bộ có đặc điểm bán nhật triều với biên độ tương đối lớn. Mực nước tại vùng cửa biển của Thành phố thay đổi từ 2 đến 3m và ảnh hưởng đến thủy lực của sông rạch trong khu vực đô thị. Vì vậy, nước thải không thể thoát ra biển, mà nước thải bị lưu lại trong kênh rạch và diễn ra quá trình phân hủy sinh học gây mùi hôi thối khó chịu. Một số kênh như Tân Hóa, Lò Gốm có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng, hàm lượng BOD dao động trong khoảng 200 – 500mg/l và hàm lượng DO là bằng 0mg/l.
Một số khu vực ô nhiễm công nghiệp điển hình: 1. Khu vực suối Cái, Xuân Trường, suối Nhum là khu vực ô nhiễm điển hình ở Thủ Đức, có khoảng 20 nhà máy có nước thải thuộc diện ô nhiễm rất năng làm ảnh hưởng đến nguồn nước ở các xã Linh Trung, Linh Xuân, Tân Phú và Long Thạnh Mỹ. Khu vực công nghiệp Phước Long, quận 9 là khu vực tập trung công nghiệp vừa làm ô nhiễm nguồn nước vừa làm ô nhiễm không khí. Các nguồn ô nhiễm nước như nhà máy chế biến hải sản COFIDEC, công ty dệt nhuộm Phước Long, công ty dệt nhuộm Phong Phú, công ty giấy Liksin, giấy Thái Văn, Dũng Tiến, xí nghiệp chăn nuôi heo Phước Long, Nam Hòa… SVTH: Lê Công Hoàn Vũ 12 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.
Khu vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phường 19 và 20 quận Tân Bình, đây là vùng tập trung chủ yếu nhiều nhà máy lớn và vừa, đặc biệt có rất nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Các nhà máy lớn trong khu vực này như: công ty dệt Thành Công, Thắng Lợi, hóa chất Tân Bình, thực phẩm Vifon, giấy Viễn Đông, công ty chế biến thủy sản Seaprimex, thực phẩm Cầu Tre, xí nghiệp phân bón hữu cơ…Các cụm tiểu thủ công nghiệp mới hình thành như cụm sản xuất cồn, cán rửa cao su, cụm thuộc da, thủy tinh ở phường 9, khu nấu chì và rửa nylon phế thải ở phường 16. Các kênh thoát nước trong khu vực này bị ô nhiễm trầm trọng như kênh Tham Lương, Tân Hương, Bàu Cát, Tân Hóa.200 cơ sở sản xuất gồm các ngành tẩy nhuộm, xeo giấy, chế biến thực phẩm, xi mạ, thuộc da, thủy tinh, gia công cơ khí, các khu ô nhiễm nghiêm trọng là phường 4,8,14, Cầu Ván… 1. ĐẶC ĐI M SẢN XUẤT NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN 1.
Thành phần, tính chất hóa học nguyên liệu thủy sản Nước thải chế biến thủy sản thường chứa nhiều các thành phần hữu cơ tồn tại chủ yếu ở dạng keo, phân tán mịn, tạp chất lơ lửng tạo nên độ màu, độ đục cho dòng thải. Nước thải thường có mùi khó chịu, độc hại do quá trình phân hủy sinh học. Thành phần không tan và dễ lắng chủ yếu là các mảnh vụn xương thịt, vây…và còn có các tạp chất vô cơ như cát, san…Để đánh giá hiện trạng nước thải ngành chế biến thủy sản một cách đúng đắn cần tìm hiểu về tính chất nguyên liệu, các thành phần cấu tạo nên nguyên liệu thủy sản. Nước: chiểm tỷ lệ khá lớn từ 60 – 80% trọng lượng cơ thể động vật thủy sản và tồn tại ở hai dạng chủ yếu là nước tự do và nước liên kết.
Protit: là thành phần chính trong tổ chức cơ thị động vật chiếm 15 – 25% trong lượng phần thịt ăn được. Quá trình phân giải protit diễn ra rất nhanh dưới tác dụng xúc tác đặc hiệu của các nhóm enzym. Ở các loại thủy sản quá trình này diễn ra rất nhanh khiến nguyên liệu dễ bị hư hỏng, ương thối sau khi đánh bắt. SVTH: Lê Công Hoàn Vũ 13 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: PGS.
THÁI VĂN NAM Lipit: trong cơ thể nguyên liệu thủy sản luôn luôn tỷ lệ nghịch với lượng nước và thường dao động trong khoảng 0,7 – 8% phần thịt ăn được. Lipit không tan trong nước, chứa nhiều axit béo không no, cấu tạo mạch dài, không đông đặc ở nhiệt độ thường và dễ bị oxy hóa gây hiện tượng ôi hóa tạo mùi khó chịu. Enzym: ở động vật thủy sản có hoạt tính sinh học mạnh kết hợp với cơ thịt mềm, lỏng lẻo, chứa nhiều nước do đó làm tăng khả năng phân giải gây ra dễ hư hỏng, ương thối sản phẩm và phát sinh các mùi độc hại.