LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nền kinh tế quốc dân là một vấn đề có tính quy luật chung của những nước nông nghiệp, mà trong đó, khu công nghiệp (KCN) giữ một vị trí quan trọng. Điểm mạnh của KCN chính là thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Vì vậy, xây dựng KCN chính là thực hiện ý tưởng "đi tắt, đón đầu" trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đồng Nai là tỉnh có lợi thế về vị trí địa lý và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm vùng Đông Nam Bộ, rất thuận lợi để phát triển các KCN. Thời gian qua, các KCN tỉnh Đồng Nai đã ra đời và trở thành một trong những địa điểm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; tạo động lực lớn cho quá trình tiếp thu khoa học công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến từ bên ngoài; tạo thêm nhiều việc làm, nhờ đó thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước và chủ động hội nhập kinh tế với nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động các KCN vẫn mắc phải một số khó khăn, yếu kém. Đó là về vấn đề thu hút đầu tư, về nguồn lao động, về môi trường…Do đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất của các KCN chưa cao.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Lộc An – Bình Sơn – Đồng Nai" làm luận văn thạc sỹ. Mục đích nghiên cứu của đề tài: - Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về vốn đầu tư, khu công nghiệp và thu hút vốn đầu tư vào các KCN. - Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư vào KCN Lộc An – Bình Sơn của tỉnh Đồng Nai, rút ra nguyên nhân và đưa ra được những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào KCN trên. Đối tƣợng nghiên cứu: Vốn đầu tư của các dự án, nghiên cứu phân tích vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào các khu công nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn này chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi khu công nghiệp Lộc An – Bình Sơn trong lĩnh vực thu vốn của các nhà đầu tư. Phƣơng pháp nghiên cứu: Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, … trên cơ sở sử dụng số liệu thống kê; tư liệu các KCN từ Ban quản lý các KCN Đồng Nai để phân tích, đánh giá, rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu có kế thừa các kiến thức, tài liệu liên quan; coi trọng những bài học kinh nghiệm. Kết cấu luận văn: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về vốn đầu tư, khu công nghiệp và thu hút đầu tư vào khu công nghiệp.
Chƣơng 2: Nghiên cứu thực trạng thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Lộc An – Bình Sơn. Chƣơng 3: Các kết quả nghiên cứu đạt được và đề ra một số giải pháp thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp Lộc An – Bình Sơn. 3 CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƢ, THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1. VỐN ĐẦU TƢ VÀ THU HÖT VỐN ĐẦU TƢ: 1.
Khái niệm vốn đầu tƣ: Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong quản lý tài chính các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính. Xét về bản chất nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.
Về cơ bản những đặc trưng của vốn là: - Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản, được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình. - Vốn phải vận động sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền. Để biến tiền thành vốn thì tiền phải thay đổi hình thái biểu hiện, vận động và có khả năng sinh lời. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu, khi xác định được chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được sử dụng hiệu quả.
- Vốn được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới phát huy tác dụng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay vốn đầu tư được định nghĩa như sau: Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường ,việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư. Vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Trong đầu tư xây dựng, vốn đầu tư được định nghĩa: Vốn đầu tư Xây dựng cơ 4 bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán. Phân loại vốn đầu tƣ: +1. Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc: - Nguồn v N c: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Đây chính là nguồn vốn dùng để đầu tư xây dựng các công trình công cộng, các hạng mục công trình an ninh quốc phòng và đầu tư cho các cơ sở phúc lợi xã hội. Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu từ nguồn thu của ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế, bán tài nguyên, thu lệ phí. - V n tín dụ ển c N c: Nền kinh tế đất nước càng phát triển thì vốn tín dụng của Nhà nước càng đóng vai quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nếu như trước năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì giai đoạn 1991 – 2000 nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của Nhà nước.
Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế này, các đơn vị sử dụng phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay, vì vậy đòi hỏi các chủ đầu tư phải cân nhắc kĩ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Thông qua nguồn vốn này, Nhà nước thực hiện việc quản lí và điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế của các ngành, các vùng, miền, góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. -V ừ các doanh nghi N c: Các doanh nghiệp Nhà nước là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế nước ta, do vậy, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng lớn vốn.
Đây chính là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông thường vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, 5 đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp. Hiện nay, với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội. - Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã.
Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để. Hiện nay, do tập tính tiêu dùng của dân cư nước ta là tiết kiệm dành những khi gặp rủi ro, nên lượng vốn này tích luỹ trong dân còn chưa được khai thác triệt để, chưa được huy động một cách tích cực để bù đắp nhu cầu về vốn của nền kinh tế đất nước. Mấy năm gần đây, khi nền kinh tế có những bước phát triển khả quan, các doanh nghiệp tư nhân ngày càng được tự do hơn trong hoạt động nên hoạt động đầu tư trong khu vực tư nhân ngày càng gia tăng, vốn trong dân cũng được sử dụng một cách có hiệu quả hơn. Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: - Vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu tài trợ các nước đang phát triển.
Đây chính là nguồn vốn mang tính ưu đãi nhiều nhất đối với các nước đi vay, ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn lớn, bao giờ ODA cũng có thêm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%. - Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, tuy không có lãi suất ưu đãi và dễ dàng như nguồn vốn ODA, nhưng nó lại có ưu điểm là không gắn với các ràng buộc về chính trị xã hội. Vì lãi suất cao và không dễ dàng để có thể vay nguồn vốn này nên nguồn vốn này thường chỉ được sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Đối với nguồn vốn này hiện nay đối với Việt Nam vẫn còn khá hạn chế.