phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh sách các từ viết tắt, các bảng biểu, luận văn có kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chƣơng 2: Tình hình thực tế đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Hải Dƣơng giai đoạn 2010 - 2015 Chƣơng 3: Một số giải pháp tăng cƣờng thu hút FDI vào Hải Dƣơng thời gian tới 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Lý luận chung về đầu tƣ quốc tế và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất và tính tất yếu của FDI 1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI xuất hiện khi một nhà đầu tƣ ở một nƣớc mua tài sản có ở một nƣớc khác với ý định quản lý nó. Quyền kiểm soát (control - tham gia vào việc đƣa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lƣợc và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tƣ chứng khoán. Theo các chuẩn mực của Quĩ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI đƣợc định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn.
Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp[19,Tr 32]. Theo OECD: Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) [19, Tr 33]. Hai định nghĩa trên nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cƣ trú tại một nƣớc, đƣợc gọi là nhà đầu tƣ trực tiếp thông qua một chủ thể khác cƣ trú ở nƣớc khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tƣ trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tƣ trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tƣ trực tiếp, đồng thời nhà đầu tƣ có một mức độ ảnh hƣởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này.
Khái niệm của WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu 7 tư) cùng với quyền kiểm soát tài sản đó. Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác. Luật đầu tƣ năm 2005 tại Việt Nam có đƣa ra khái niệm về “đầu tƣ”, “đầu tƣ trực tiếp”, “đầu tƣ nƣớc ngoài” nhƣng không đƣa ra khái niệm “đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài”. Tuy nhiên từ các khái niệm này có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Tóm lại có thể hiểu theo cách chung nhất: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó [19, Tr 34] 1.2 Đặc điểm và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài * Bản chất: Về bản chất, FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tƣ và một bên khác là nƣớc nhận đầu tƣ. - Đối với nhà đầu tƣ: Khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới trình độ mà “mảnh đất” sản xuất kinh doanh truyền thống của họ đã trở nên chật hẹp đến mức cản trở khả năng hiệu quả của đầu tƣ, nơi mà ở đó nếu đầu tƣ vào thì họ sẽ thu đƣợc lợi nhuận không nhƣ mong muốn. Trong khi ở một số quốc gia khác lại xuất hiện nhiều lợi thế mà họ có thể khai thác để thu lợi nhuận cao hơn nơi mà họ đang đầu tƣ. Có thể nói đây chính là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tƣ chuyển vốn của mình đầu tƣ vào nƣớc khác.
Hay nói cách khác, việc tìm kiếm, theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, là động cơ, là mục tiêu cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tƣ. Đầu tƣ ra nƣớc ngoài là phƣơng thức giải quyết có hiệu quả. Đây là loại hình mà bản thân nó rất có khả năng để thực hiện việc kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản phẩm”, “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật” mà vẫn giữ đƣợc độc quyền kỹ thuật, dễ dàng xâm nhập thị trƣờng nƣớc ngoài mà không bị cản trở bởi các rào chắn. 8 - Đối với các nƣớc nhận đầu tƣ: Đây là những nƣớc đang có một số lợi thế mà nó chƣa có hoặc không có điều kiện để khai thác.
Các nƣớc nhận đầu tƣ thuộc loại này thƣờng là các nƣớc có nguồn tài nguyên tƣơng đối phong phú, có nguồn lao động dồi dào và giá nhân công rẻ, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến và ít có khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao… Số này phần lớn thuộc các nƣớc đang phát triển. Các nƣớc nhận đầu tƣ dạng khác đó là các nƣớc phát triển, đây là các nƣớc có tiềm lực kinh tế cao, phần lớn là những nƣớc có vốn đầu tƣ ra nƣớc ngoài. Các nƣớc này có đặc điểm là có cơ sở hạ tầng tốt, họ đã và đang tham gia có hiệu quả vào quá trình phân công lao động quốc tế hoặc là thành viên của các tổ chức kinh tế hoặc các tập đoàn kinh tế lớn. Họ nhận đầu tƣ trong mối liên kết để giữ quyền chi phối kinh tế thế giới.
Nói chung, đối với nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, cho dù ở trình độ phát triển cao hay thấp, số vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là do sự khéo léo “mời chào” của nƣớc nhận đầu tƣ hay do các nhà đầu tƣ tự tìm đến mà có, đầu tƣ nƣớc ngoài cũng thƣờng có sự đóng góp nhất định đối với sự phát triển của họ. Ở những mức độ khác nhau, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đóng vài trò là nguồn vốn bổ sung là điều kiện quyết định (thậm chí quyết định) sự chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực của một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh, hay một số ngành nghề, hoặc là những yếu tố xúc tác làm cho các tiềm năng nội tại của nƣớc nhận đầu tƣ phát huy một cách mạnh mẽ và có hiệu quả hơn. * Đặc điểm: - FDI chủ yếu là đầu tƣ tƣ nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần lƣu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tƣ [19, Tr 56].
9 - Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của pháp luật từng nƣớc để dành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tƣ. Luật các nƣớc thƣờng quy định không giống nhau về vấn đề này. - Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng đƣợc phân chia dựa trên tỷ lệ này. - Thu nhập mà chủ đầu tƣ thu đƣợc phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tƣ, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.
- Chủ đầu tƣ quyết định đầu tƣ, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tƣ, hình thức đầu tƣ, thị trƣờng đầu tƣ, quy mô đầu tƣ cũng nhƣ công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đƣa ra quyết định có lợi nhất cho họ. - FDI thƣờng kèm theo chuyển giao công nghệ cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Thông qua hoạt động FDI nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có thể tiếp nhận đƣợc công nghệ, kỹ thuật tiên tiến và học hỏi kinh nghiệm quản lý.3 Tính tất yếu của FDI đối với phát triển kinh tế của địa phương; Khu vực kinh tế có vốn FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và nền kinh tế địa phƣơng nói riêng, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất.
- FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Trong thời gian qua FDI đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trƣởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bƣớc trở thành nguồn đầu tƣ quan trọng, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành, đƣa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tƣ, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trƣởng giai đoạn sau đó đƣợc khởi công và đẩy nhanh tiến độ. Tốc độ tăng trƣởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn FDI cao 10 hơn mức tăng trƣởng công nghiệp chung của địa phƣơng, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.