CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Đầu tư nước ngoài 1.Quốc tế hóa đời sống kinh tế là xu thế tất yếu của sự phát triển dưới tác động của tiến bộ về khoa học-công nghệ: Cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại diễn ra rất nhanh chóng, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ thông tin diễn ra trên toàn cầu, đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế. việc ứng dụng những thành tựu khoa học- công nghệ hiện đại để thiết lập các dây chuyền sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao, đòi hỏi phải tham gia hợp tác sản xuất quốc tế mới có thể tận dụng công suất máy móc, thiết bị, bảo đảm thị trường và nguồn nguyên liệu nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, phát huy lợi thế cạnh tranh trong sản xuất.
Một quốc gia không thể tự bao quát, đáp ứng hết mọi yêu cầu phát triển, do vậy đòi hỏi tất yếu phải giao lưu hợp tác quốc tế, trao đổi, kế thừa nhau để phát triển. Đặc biệt, vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, chinh phục vũ trụ, thăm dò khai thác tài nguyên ….là những lĩnh vực mà riêng một nước không thể giải quyết triệt để được. Trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng mở rộng và xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế đã phát triển lên một tầm cao mới hình thành nên các liên kết kinh tế quốc tế. Trọng tâm của hợp tác kinh tế quốc tế đã chuyển từ lĩnh vực ngọai thương đơn thuần sang lĩnh vực sản xuất.
Các công ty đa quốc gia hình thành các chi nhánh, xây dựng xí nghiệp hoặc mua cổ phiếu của các công ty nước sở tại và chuyển giao công nghệ của mình cho các công ty này đồng thời khai thác lợi thế về nguồn lao động rẻ, thuê đất rẻ tại nước sở tại. Ngoài ra sự khác biệt về điều kiện địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là nhân tố đòi hỏi mở rộng kinh tế đối ngọai. Đối với các nước kém phát triển, các nước đang phát triển do thiếu vốn, thiếu trình độ công nghệ quản lý thường chưa khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách có hiệu quả, trong khi có đất đai, lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 lượng lao động dồi dào. Đầu tư nước ngòai trở thành một giải pháp hữu hiệu cho việc khắc phục tình trạng khan hiếm vốn, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực phục vụ cho tăng trưởng nhanh, bền vững của quốc gia.
Trong giai đọan chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường trong điều kiện nội lực chưa mạnh, mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người còn thấp, khả năng tích lũy trong nước còn hạn chế, trong khi đó việc đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và những công trình chiến lược quốc gia đòi hỏi rất nhiều vốn. Do đó, tranh thủ nguồn vốn nước ngòai, tăng cường liên doanh, liên kết kinh tế là một giải pháp mang tính chiến lược để phát triển đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại Hội lần thứ X bàn về định hướng phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại chỉ rõ: “Khẩn trương đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với quy định, thông lệ quốc tế. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi hơn nữa để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế như: vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp dưới nhiều hình thức, tín dụng thương mại và các nguồn vốn quốc tế khác” [3].
Chủ trương này đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta chủ động hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới; thực hiện phương châm phát huy nội lực đồng thời tranh thủ ngọai lực để tăng trưởng, phát triển kinh tế-xã hội; tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế đối ngọai trong phát triển, hợp tác quốc tế. Trong đó, hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngòai được đánh giá có vai trò quan trọng trong việc đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, tiếp cận với trình độ công nghệ tiên tiến một cách nhanh chóng và hiệu quả. “Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh. Tạo [3 ] Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2006, trang 204 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 điều kiện cho đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta”[4].
Các hình thức đầu tư nước ngoài: Các hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư quốc tế là : - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) - Đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán - Cho vay của các định chế tài chính và các ngân hàng nước ngoài. - Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) Nguồn vay, vốn hỗ trợ chính thức sẽ trở thành gánh nặng nợ nước ngoài; đầu tư qua thị trường chứng khoán không trở thành nợ nhưng không ổn định và dễ rút lui khỏi thị trường có thể gây những cơn sốc trong thị trường vốn của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài không tạo thành gánh nặng nợ, vốn FDI có tính chất “ bén rễ” ở nước tiếp nhận nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó FDI còn mang theo công nghệ và tri thức kinh doanh giúp tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hiện tượng chuyển dịch vốn từ nước này sang nước khác với mục đích đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ. Trong hình thức đầu tư này mức đóng góp của chủ đầu tư đủ lớn để cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp. Đây là hình thức toàn cầu hoá diễn ra rất mạnh giữa các nước phát triển với nhau, giữa các nước phát triển và các nước công nghiệp mới (NICs), giữa các nước phát triển, các NICs với các nước đang phát triển ( Nguyễn Như Ý, 2000)[5]. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia [4 ] Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2006, trang 238 [5 ] Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngòai lên nước tiếp nhận đầu tư-Trường hợp Việt Nam,2000 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. FDI gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và là đặc trưng hoạt động của các công ty đa quốc gia. Trong những năm 1980 đầu tư lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển tăng mạnh. Có nhiều cách lý giải mức độ đầu tư cao giữa các nước phát triển, nhưng nhìn chung có 2 nguyên nhân chính.
Thứ nhất, môi trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương đồng cao cả về môi trường công nghệ và môi trường pháp lý. Thứ hai, xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này xâm nhập thị trường lẫn nhau. Cũng với hai lý do chính đó, chúng ta có thể lý giải được xu hướng tăng lên của FDI ở các NICs, các nước ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ trong những thập niên gần đây. Quá trình mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế của các nước này đã tạo nên những khoảng trống mới cho đầu tư.
Như vậy, xu hướng tự do hóa và mạnh dạn mở cửa thị trường của các nước đang phát triển trong những năm gần đây đã tạo nên dòng chảy FDI vào tăng lên rất nhanh. Năm 1990, các nước đang phát triển tiếp nhận 19%, năm 1992 khoảng 30% tổng số vốn FDI thế giới. Năm 2005 dòng chảy FDI thế giới đạt 916 tỷ USD, trong đó vào các nước đang phát triển 334 tỷ USD (36,4% FDI thế giới)[6]. Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI với thương mại và chuyển giao công nghệ.
Chính sách thu hút FDI có mục tiêu tăng khả năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài lựa chọn ngành nghề và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới, các quốc gia chuyển từ chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu sang sản xuất hàng xuất khẩu. FDI là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chính sách này. FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, thông qua FDI việc luân chuyển vốn và công nghệ rất hiệu quả trên phạm vi toàn thế giới.
[6 ] APEC Investment Forum 2006, Ha Noi 15-16 November 2006- Investment Opportunities in the APEC Region Presented by Prof. Hafiz Mirza Chief, Development Issues Section, Division on investment, Technology and Eenterprise Development UNCTAD LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hình thức FDI tại Việt Nam Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngòai: nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư 100% vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân ( Nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ). Doanh nghiệp 100% vốn FDI được hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN mới.
Doanh nghiệp 100% vốn FDI có tư cách pháp nhân Việt Nam, được thành lập và hoạt động từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nhà ĐTTN được hợp tác với nhà ĐTNN để đầu tư thành lập công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Doanh nghiệp liên doanh được hợp tác với nhà ĐTNN và nhà ĐTTN để đầu tư lập doanh nghiệp liên doanh mới.