đặt vấn đề và kết luận, phần nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Thành phố Hà Nội Chƣơng 2. Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào địa bàn Thành phố Hà Nội Chƣơng 3. Một số giải pháp tăng cƣờng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Hà Nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN II.
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢNGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1.CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Khái niệm đầu tƣ quốc tế: Đầu tư quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó nhà đầu tư di chuyển các phương tiện đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh thu lợi hoặc đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội khác. Về bản chất, đầu tƣ quốc tế là hình thức xuất khẩu tƣ bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ nhau trong chiến lƣợc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trƣờng của các công ty, tập đoàn nƣớc ngoài hiện nay.
Trong nhiều trƣờng hợp việc buôn bán hàng hóa ở nƣớc sở tại là đi tìm kiếm thị trƣờng, tìm hiểu luật lệ để đi đến quyết định đầu tƣ. Ngƣợc lại, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tƣ ở nƣớc nhận đầu tƣ là điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tƣ, nguyên vật liệu và khai thác tài nguyên của nƣớc này. Cùng với hoạt động thƣơng mại quốc tế, hoạt động đầu tƣ quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng chính trong trào lƣu có tính qui luật trong liên kết hợp tác kinh tế quốc tế hiện nay. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign direct investment - FDI): FDI là hình thức đầu tƣ rất phổ biến của đầu tƣ quốc tế, vì vậy có rất nhiều cách định nghĩa FDI của các tổ chức khác nhau: Theo định nghĩa của IMF (International Monetary Fund) trong Balance of payments manual, Fifth edition, 1993: đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước này đặt lợi ích dài hạn trong các công việc đầu tư và kinh doanh ở doanh nghiệp tại một nước khác.
Mục tiêu của nhà đầu tư là giành được một mức độ ảnh hưởng hiệu quả trong quản lý. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo định nghĩa của OECD trong The Detailed Bench mark Definition of Foreign Investment, Third edition, 1996: đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện mục tiêu đạt được lợi ích dài hạn của một nhà đầu tư vào một nền kinh tế. Lợi ích dài hạn nghĩa là sẽ tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp; và nhà đầu tư sẽ có một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong quản lý doanh nghiệp. Về cơ bản, hai khái niệm này đều nhấn mạnh mối quan tâm dài hạn và quyền quản lý của nhà đầu tƣ đi kèm với một số lƣợng cổ phần nhất định.
OECD đƣa ra quan điểm rộng hơn IMF về quyền quản lý còn IMF đƣa ra quan niệm nhà đầu tƣ phải sở hữu ít nhất là 10% tổng vốn đầu tƣ để có quyền quản lý và đƣợc xem là đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. OECD không khuyến khích các nƣớc áp dụng ngƣỡng góp vốn tối thiểu này, vì ở một số nƣớc, trong một số trƣờng hợp, tỷ lệ này không phản ánh đúng mức độ ảnh hƣởng của nhà đầu tƣ. Đôi khi việc nhà đầu tƣ sở hữu 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền bỏ phiếu cũng không mang lại cho họ quyền quản lý đáng kể với doanh nghiệp; trong khi với một số trƣờng hợp khác, nhà đầu tƣ có thể sở hữu dƣới 10% vốn đầu tƣ nhƣng vẫn có quyền quyết định hoạt động của doanh nghiệp nƣớc ngoài (nhƣ trong trƣờng hợp là thành viên sáng lập). Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác.
Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy. Theo cách hiểu của Luật đầu tƣ của Việt Nam thì FDI – Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc tổ chức, các nhân nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền hoặc bất kì tài sản nào đƣợc chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh thu lợi nhuận trên lãnh thổ Việt Nam. Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: “đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có đƣợc quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”. Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng và giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…).
Nhƣ vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có yếu tố nƣớc ngoài. Bản chất và đặc điểm của vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Về bản chất: FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tƣ và một bên là nƣớc nhận đầu tƣ. Vì vậy bản chất của FDI là sự gặp gỡ cung cầu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và nƣớc nhận đầu tƣ.
Điều đó đã giải thích rằng FDI đƣợc hình thành nhƣ thế nào và vì sao có FDI. Về đặc điểm của FDI: i) Các chủ đẩu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tùy theo quy định của luật đầu tƣ từng nƣớc. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, mục tiêu thu hút vốn và nhu cầu quản lý, các nƣớc quy định các tỷ lệ góp vốn tối thiểu khác nhau. IMF đƣa ra một ngƣỡng góp vốn tối thiểu là 10% tổng vốn đầu tƣ.
ii) Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tƣ trong vốn pháp định. Mức độ góp vốn càng cao thì mức độ ảnh hƣởng của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà đầu tƣ càng lớn. Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tƣ toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tham gia vào quá trình điều hành quản lý doanh nghiệp giúp đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ.
iii) Lợi nhuận của các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và đƣợc chia theo tỷ lệ góp vốn trên vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho nƣớc sở tại và trả cổ tức nếu có. Với FDI, các nhà đầu tƣ tự mình hạch toán lợi nhuận và chịu trách nhiệm về việc kinh doanh của mình do đó không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. iv) FDI thƣờng đi kèm với chuyển giao công nghệ. Dù có hay không có chủ ý thì trong quá trình chuyển vốn vào một nƣớc nhà đầu tƣ cũng đem lại kèm theo dòng vốn đó máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất….
Hơn nữa, để hoạt động có hiệu quả nhà đầu tƣ cũng sẽ áp dụng những kinh nghiệm quản lý mới và tăng cƣờng đào tạo nhân lực. Chính vì đặc điểm này mà các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát triến luôn chú trọng thu hút FDI để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế. Vai trò của việc thu hút FDI 1. FDI tạo vốn để phát triển kinh tế, góp phần tăng nguồn thu ngân sách Hầu hết các quốc gia khi thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Vào những năm 1950, các nhà kinh tế của Liên hợp quốc đã coi sự thiếu hụt về vốn là một hạn chế chủ yếu của tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc kém phát triển. Để có vốn các nƣớc này chỉ tiến hành bằng con đƣờng tích lũy nội bộ, nhƣng trong xu hƣớng phát triển nhƣ hiện nay nếu chỉ trong chờ vào quá trình tích lũy nội bộ thì khó tránh khỏi tụt hậu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó khăn về vốn cho quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy kinh tế của một nƣớc đang phát triển. Trong điều kiện của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa, nhìn chung các nƣớc đang phát triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mức sống thấp, khả năng tích lũy kém, cơ sở hạ tầng chƣa phát triển, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, mức đầu tƣ thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thiểu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới….
Giải pháp của các nƣớc đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn đầu tƣ quốc tế. Nguồn vốn đƣợc đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa của các nƣớc đang phát triển là vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Điều này cũng dễ hiểu, khi nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra, do đó trƣớc khi đầu tƣ họ buộc phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án. Trƣớc khi tiến hành đầu tƣ, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng có sẵn một số điều kiện cơ bản nhƣ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lí, khả năng thị trƣờng… tức là nhà đầu tƣ đã dự báo đƣợc phần nào hiệu quả có thể thu đƣợc của đồng vốn đầu tƣ.
Mặc dù vậy, cũng không ai dám chắc khi có đầy đủ các điều kiện nhƣ vậy là sẽ đạt kết quả tốt trong đầu tƣ. Rất dễ nhận thấy rằng khi nhà đầu tƣ bắt đầu bỏ vốn thực hiện dự án đầu tƣ thì xác suất giữa thành công và thất bại là ngang nhau.