CHƯƠNG 1 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NỢ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái niệm và vai trò củaBHXH 1.1 Khái niệm BHXH Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải có ăn, mặc, ở… Để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu đó, con người phải tham gia vào quá trình lao động. Song cuộc sống của con người dù ở bất kỳ chế độ xã hội nào, bất kỳ giai đoạn phát triển nào cũng luôn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường sống, điều kiện sinh học. Những rủi ro ngoài ý muốn xảy ra làm cho con người bị giảm, bị mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Khi rơi vào các trường hợp đó, các nhu cầu thiết yếu của con người không những không mất đi mà thậm chí còn tăng lên.
Để khắc phục những tổn thất từ rủi ro, con người đã tìm ra nhiều cách như tự cứu mình bằng biện pháp "tích cốc phòng cơ" hoặc tìm đến sự giúp đỡ của cộng đồng bằng hoạt động tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Theo thời gian, sự cưu mang, đùm bọc tương thân tương ái đó ngày càng được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Đến thế kỷ XIX, quá trình công nghiệp hóa đã diễn ra mạnh mẽ ở Châu Âu. Đô thị trở thành nơi có nền công nghiệp phát triển và thu hút nhiều nông dân ra tỉnh làm thuê.
Trước đây ở nông thôn, quan hệ họ hàng, làng xã là tấm lá chắn bền vững bảo vệ mỗi cá nhân và gia đình họ khi gặp khó khăn. Khi ra tỉnh làm thuê, những người nông dân trở thành những người công nhân chỉ còn dựa vào tiền lương hàng tháng để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu. Để giảm nhẹ rủi ro khi không còn có tiền lương do ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp hoặc tuổi già, những người công nhân tìm cách khắc phục bằng việc lập các hội tương tế, các hội đoàn. đồng thời với sự đấu tranh mạnh mẽ của những người làm thuê, giới chủ và Nhà nước cũng đã phải trợ giúp, đảm bảo cuộc sống cho họ.
Năm 1885, lần đầu tiên ở nước Phổ (Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay) nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật - đó chính là hình thức đầu tiên của BHXH. BHXH ra đời đã trở thành xương sống của hệ thống an sinh xã hội và được tất cả các quốc gia thừa nhận là một trong những quyền con người. Trong Tuyên 4 ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội". Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong các xã hội có nền kinh tế thị trường - nơi mà ở đó có những nhóm người gặp rủi ro, bất hạnh, bị giảm hoặc mất thu nhập, rơi vào tình trạng không tự lo được cuộc sống hoặc bị rơi vào vị trí yếu thế trong xã hội.
Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội. Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối lâu dài, nhưng do tính chất phức tạp và đa dạng của bảo hiểm xã hội nên đến nay vẫn còn những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Điều đó được phản ánh qua các khái niệm về BHXH được thể hiện ở các góc độ khác nhau. Cụ thể: - BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [20,tr.
- Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 quy định: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Trong đó BHXH bắt buộc được định nghĩa “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia.5] - Theo cách tiếp cận từ góc độ chính sách, chính sách BHXH là những nguyên tắc và biện pháp của Nhà nước về vấn đề BHXH cho người lao động nhằm đảm bảo thực hiện quyền tham gia và thụ hưởng BHXH cho mọi thành viên xã hội, góp phần ổn định, công bằng và phát triển xã hội.148] - Theo góc độ tài chính, BHXH là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những người lao động, có sự bảo trợ của Nhà nước, để 5 san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. - Theo góc độ pháp luật, Bảo hiểm xã hội được hiểu là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội [17,tr. Các khái niệm trên đều thống nhất rằng muốn thực hiện được BHXH cần có vai trò của Nhà nước, và dứt khoát phải có sự tham gia đóng góp của người lao động để hình thành nên qũy BHXH, vì mục đích của quỹ BHXH là bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập của người lao động khi họ gặp phải các rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động Tuy nhiên các khái niệm nêu trên nghiên cứu về BHXH trên các góc độ khác nhau chưa thể nêu bật được phạm vi đối tượng của BHXH cũng như chưa làm rõ được vai trò của chủ sử dụng lao động.
Do đó trên cơ sở kế thừa và phân tích các nhận xét kể trên, tác giả đưa ra khái niệm: Bảo hiểm xã hội là biện pháp mà Nhà nước sử dụng nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ lao động của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động do gặp phải các rủi ro như: Ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết dựa trên cơ sở hình thành quỹ tiền tệ tập trung từ sự tham gia đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động được sự bảo trợ của Nhà nước nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ.2 Vai trò củaBHXH Khi các chức năng của BHXH được khai thác và phát huy một cách hiệu quả, những tác động tích cực của BHXH đến đời sống kinh tế - xã hội sẽ được thể hiện một cách cụ thể thông qua các vai trò sau đây: Đối với người lao động BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm. Trong cuộc sống hàng ngày có những rủi ro như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu… Tất cả những rủi ro này đều có thể xảy ra với bất kỳ người lao động nào, tại bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống của con người. Đặc biệt, khi nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì những rủi ro này lại càng 6 diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn vì con người phải làm việc với cường độ lao động cao hơn, hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng và phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra đối với người lao động, sẽ gây cho bản thân người lao động và gia đình họ rất nhiều khó khăn cả về vật chất và tinh thần, bởi vì các rủi ro sẽ làm mất hoặc giảm thu nhập từ lao động.
Lúc này bản thân người lao động và gia đình họ rất cần sự chia sẻ, giúp đỡ kịp thời cả về vật chất và tinh thần để họ nhanh chóng hồi phục khả năng lao động quay trở lại quá trình sản xuất. Quỹ BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho người lao động và gia đình họ bằng cách bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập bị giảm hoặc bị mất đó, hoặc tạo ra cho họ những điều kiện lao động thuận lợi giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm trong công tác. Vai trò của BHXH đối với người lao động được thể hiện rõ nét thông qua từng chế độ BHXH: - Những khoản trợ cấp ốm đau bằng tiền mặt giúp người lao động nhanh chóng bình phục thông qua việc hỗ trợ, bù đắp thu nhập bị giảm do không tham gia lao động bằng khoản trợ cấp từ quỹ BHXH thay thế. - Bảo hiểm thai sản là một phần quan trọng trong việc tái sản xuất sức khỏe của lực lượng lao động cũng như là duy trì sức khỏe làm việc cho các bà mẹ.
- Chế độ bảo hiểm tai nạn – lâu đời nhất và rộng rãi nhất trong các mô hình về BHXH đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc ngăn cản các tai nạn và ốm đau gắn liền với quá trình lao động và trong sự phục hồi của những người lao động. - Trợ cấp thất nghiệp tạo điều kiện cho những người thất nghiệp bằng cách chi trả kịp thời khoản trợ cấp trong thời gian người lao động bị thất nghiệp và tìm kiếm một công việc phù hợp mà có thể tận dụng hết khả năng của họ; sự kết hợp giữa việc làm và các dịch vụ đào tạo cũng là một nhân tố đáng được kể đến. - Trợ cấp nuôi con (và các khoản trợ cấp bằng tiền khác được cung cấp khi mà trụ cột trong gia đình không có khả năng làm việc) giúp đảm bảo rằng những gia đình có trẻ em có đủ thu nhập để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và môi trường sống khỏe mạnh cho con cái họ. Ở các nước đang phát triển, trợ cấp nuôi con có thể là một công cụ đầy sức mạnh để chống lại việc sử dụng lao động trẻ em và thúc đẩy trẻ em tới trường.
“Trẻ em do đó có thể nhận được sự giáo dục mà cho phép chúng sau này đạt được các mức năng suất lao động và 7 thu nhập cao hơn”.