CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẠO VIỆC LÀM 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Việc làm - Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó. - Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
- Điều 13, chương II Bộ Luật Lao Động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [2, tr. Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: - Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. - Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm.
Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, việc làm được hiểu “ là phạm trù trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó” [3, tr. Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm : - Làm các công việc được trả công dướ i dạng bằng tiền hoặc hiện vật. - Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập 8 cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó.
Đó có thể là các công việc trong các nhà máy, công sở, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm. Thiếu việc làm Thiếu việc làm là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn [3, tr. Thiếu việc làm biểu hiện dưới hai dạng, hoặc là người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu nhập. Người thiếu việc làm là những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập.
Thất nghiệp Thất nghiệp là sự mất việc làm hay sự tách rời lao động ra khỏi tư liệu sản xuất. Định nghĩa thất nghiệp của ILO: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội: “thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quá”.260] Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội rất đa dạng và phức tạp, do đó tồn tại rất nhiều hình thức thất nghiệp khác nhau : 9 - Thất nghiệp tạm thời : là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con người giữa các khu vực địa lý, các công việc hay các giai đoạn khác nhau của cuộc sống, và người lao động cần có thời gian để tìm kiếm việc làm thích hợp nhất với chuyên môn và sở thích của họ. Ví dụ, học sinh, sinh viên tìm việc làm sau khi tốt nghiệp các trường, di chuyển đến nơi ở mới, hoặc phụ nữ sau khi sinh con quay lại hoạt động kinh tế.
- Thất nghiệp cơ cấu : là thất nghiệp xuất hiện khi trình độ, tay nghề, kỹ năng làm việc của người lao động không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các ngành nghề đang cần lao động. - Thất nghiệp chu kỳ : là thất nghiệp gắn với chu kỳ của ngành và của nền kinh tế. Vào giai đoạn suy thoái, mức cầu chung về lao động của ngành và của nền kinh tế giảm, khi đó người lao động có nhu cầu làm việc ở mức lương thịnh hành nhưng không tìm được việc làm. - Thất nghiệp do thiếu cầu : là thất nghiệp xuất hiện khi tổng cầu giảm kéo theo giảm cầu về lao động, tuy nhiên tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh để phục hồi mức toàn dụng lao động.
- Thất nghiệp thiếu thông tin : là thất nghiệp do hai bên người sử dụng lao động và người lao động cần có thời gian để tìm kiếm, xử lý, xác nhận thông tin để dưa ra quyết định thuê lao động hoặc làm thuê. - Thất nghiệp mùa vụ : là thất nghiệp thường xảy ra vào những thời kỳ nhất định trong năm do tính chất thời vụ của công việc như xây dựng, gặt hái mùa màng. Ở Việt Nam, Bộ Lao động –TB & XH đã quy định: “Người thất nghiệp là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không việc làm trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu.hoặc trong tuần lễ trước điều tra 10 có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc”. Thất nghiệp trong trường hợp bị thu hồi đất sản xuất là thuộc loại thất nghiệp cơ cấu, vì việc làm của người lao động gắn liền với đất đai.
Khi tư liệu sản xuất là đất đai bị mất, lao động nông nghiệp dôi dư nhưng không đáp ứng được cầu lao động của các ngành nghề phi nông nghiệp nên họ bị thất nghiệp. Tạo việc làm “Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động” [3, tr. Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường. Cơ chế tạo việc làm là cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của người lao động, nhà nước và người sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường đúng lúc, đúng chỗ.
- Về phía người lao động : muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định. - Về phía Nhà nước : tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động. - Về phía người sử dụng lao động: cần có thông tin về thị trường đầu 11 vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động. Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm.
Hơn nữa, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn cần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của nhà nước trong lĩnh vực lao động, việc làm. Đồng thời đề ra các quy định phù hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của người lao động, khơi dậy động lực lao động ở mỗi người. Sự cần thiết của tạo việc làm Tạo việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết, trước hết là nhằm giảm lao động thất nghiệp cho nền kinh tế. Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển muốn nhanh chóng thoát ra khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, năng suất cao.
Trong quá trình CNH - HĐH, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động. Hơn nữa, cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành nghề mới, hoạt động sản xuất mới ra đời thay thế cho một số hoạt động sản xuất cũ dẫn đến thất nghiệp phát sinh. Như vậy, tạo việc làm cho người lao động trước hết nhằm giảm lượng lao động thất nghiệp, đồng thời góp phần làm tăng sản lượng quốc dân, tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững. Vấn đề việc làm và tạo việc làm là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm rất lớn không những của nước ta mà là tất cả các nước trên thế giới.
Việc làm có ý nghĩa to lớn trong việc làm ra của cải vật chất để nuôi sống con người. Tạo việc làm cho người lao động giúp họ có thu 12 nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần của người lao động, ngày một nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội. Tạo việc làm cho lao động không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội. Nếu không có việc làm, thất nghiệp sẽ tăng, đó là nguồn gốc của các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma túy…Như vậy, tạo việc làm không những góp phần đẩy lùi được các tệ nạn xã hội mà còn có thể kích thích người lao động sáng tạo, thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, đảm bảo công bằng xã hội.