CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1. Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nữ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chung về lao động * Lao động Lao động là công việc vô cùng quan trọng của con người để sử dụng các công cụ lao động tạo ra sản phẩm, dịch vụ nhằm thực hiện các mục đích khác nhau của con người.
Lao động có ý nghĩa rất lớn trong sự tăng trưởng KTXH trong mọi thời đại. Vấn đề lao động được quan tâm, thực hiện có năng suất mang lại hiệu quả kinh tế sẽ đóng góp kiến tạo nhiều giá trị kinh tế và giúp đất nước sẽ tăng trưởng vững mạnh hơn. Trong giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin của Nguyễn Văn Hảo và cộng sự (2003) : “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người”. Cho thấy, lao động xuất phát từ mục đích mong muốn cần có và cũng là khả năng mà con người có được hơn các loài động vật khác.
Lao động xuất hiện và thay đổi theo các thời kỳ khác nhau góp phần vào những bước tiến quan trọng của xã hội loài người từ xưa đến nay. Ăng-ghen cho rằng: “Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc và bất cứ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người”. Có thể thấy, lao động là yếu tố có vai trò quan trọng và quyết định trong ba yếu tố của sản xuất. Trong bất cứ thời kỳ nào, dù là trong thời đại hiện nay, khi công nghệ số phát triển vượt bậc quá trình sản xuất đã được thay thế bằng các kỹ thuật hiện đại, công nghệ khoa học tiên tiến nhưng quá trình sản xuất thì vẫn luôn cần phải có sự tác động của con người.
Không thể bỏ qua vị thế quan trọng của sức lao động của con người đối với quá trình SXKD để tạo ra sản phẩm, dịch vụ và góp phần rất lớn cho sự tiến bộ của nền KTXH của đất nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 * Lao động nữ Theo Điều, Điều 187 của Bộ Luật lao động (2012) quy định: “Độ tuổi lao động được tính từ đủ 15 tuổi đến thời điểm nghỉ hưu của người lao động: Đối với nam từ 15 - 60 tuổi; đối với nữ 15 - 55 tuổi. Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.” * Lực lượng lao động nữ Lực lượng lao động có vị trí vô cùng quan trọng trong việc phát triển KTXH của bất kỳ quốc gia nào dừ là nước phát triển hay nước đang và không phát triển. Lực lượng lao động dồi dào và có chất lượng cao sẽ có nhiều khả năng đáp ứng được với các yêu cầu của các công việc khác nhau, sẽ góp phần rất lớn giúp cho giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của người lao động.
Ở Việt Nam, theo Bộ Luật lao động (2012) thì: “Lực lượng lao động là những người trong độ tuổi lao động (do Hiến pháp quy định), có khả năng lao động và có nhu cầu việc làm.” Như vậy lực lượng lao động là người được hiến pháp quy định vẫn trong độ tuổi làm việc có thể lao động và làm việc trong hiện tại. Những người này có thể đang có việc làm hay có thể đang bị thất nghiệp mà vẫn có ý muốn kiếm tìm công việc. Theo đó, lực lượng lao động nữ có thể hiểu là lực lượng gồm những phụ nữ trong độ tuổi từ 15 tuổi đến 55 tuổi, có thể làm việc và lao động trong hiện tại và gồm cả những phụ nữ thất nghiệp mà vẫn có mong muốn tìm việc làm. Đặc đểm của lao động nữ Lực lượng lao động của xã hội không thể thiếu được lực lượng lao động nữ, chiếm hơn một nửa tổng số lực lượng lao động của xã hội nên đây là lực lượng quan trọng.
Cùng với lao động nam, lao động nữ cũng đã đóng góp công lớn trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Lao động nữ hiện tham gia trong đầy đủ các phương diện KTXH, chính trị, ngoại giao, an ninh, … Nhưng vì có những đặc điểm mang tính đặc thù của lao động nữ nên đối với lao động nữ khi nhắc đến họ thì cần chú trọng một số điểm như: Lao động nữ có đặc điểm cơ thể, thể trạng bé nhỏ, sức lực yếu hơn so với các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 lao động nam do đó bị hạn chế về thể lực. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng yêu cầu của công việc, đặc biệt là các công việc yêu cầu sức mạnh, mang tính chất nguy hiểm hay nặng nhọc. Do đó, các lao động nữ thường không thể tìm kiếm được các công việc trong lĩnh vuệc công nghiệp nặng đang có thế mạnh của nước ta.
Ngoài ra, lao động nữ có thiên chức làm mẹ, làm vợ nên thường mang gánh nặng công việc của gia đình và thường không có nhiều cơ hội tiếp xúc với ngoài xã hội. Lao động nữ thường khó sắp xếp công việc hơn so với lao động nam. Vì vậy trong quá trình đi tìm việc làm cũng như trong quá trình làm việc họ đều bị hạn chế khả năng tập trung cho công việc. Điều này cũng khiến nhiều đơn vị không thể sử dụng các lao động nữ trong doanh nghiệp của mình để tránh gián đoạn hoạt động SXKD của đơn vị.
Do đó, nhiều doanh nghiệp đã yêu cầu các lao động nữ phải ký các cam kết không lập gia đình hay sinh con trong những năm đầu mới vào doanh nghiệp khiến cho nhiều lao động nữ không muốn tìm việc vì phải rằng buộc điều kiện. Sự mất cân bằng về trình độ kiến, trình độ kỹ thuật chuyên môn và việc sắp xếp các vị trí việc làm trong cơ quan của lao động nữ so với lao động nam vẫn còn lớn. Hiện nay, lao động nữ ở vùng nông thôn, miền núi và các lao động nữ là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo chưa qua học nghề và chưa được đào tạo trình độ chuyên môn còn chiếm tỷ lệ cao. Trong xã hội hiện nay vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng giới kéo theo sự bất bình đẳng cả về thu nhập, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi.
Mặc dù xã hội phát triển cũng đã góp phần nhận thức đúng đắn hơn về bình đẳng giới và rút ngắn khoảng cách bất bình đẳng giới giữa lao động nam và lao động nữ. Nhưng trên thực tế tại nhiều nơi ở vùng nông thôn và miền núi thì bất bình đẳng giới vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Lao động nữ phải chịu những định kiến của xã hội đặc biệt là ở vùng nông thôn với nền phong kiến lạc hậu hay ở miền núi chịu nhiều các hủ tục lạc hậu, tập quán hà khắc của xã hội ngày xưa. Vì vậy, lao động nữ chưa có nhận thức cao và có những hạn chế trong nhận thức về xã hội hiện đại cũng như khó khăn trong tìm kiếm được việc làm cho bản thân.
Bên cạnh đó, sự không tự tin, nhút nhát không dám thể hiện bản thân mình của nhiều lao động nữ khiến cho họ càng gặp nhiều khó khăn hơn khi tìm kiếm việc làm trên thị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trường lao động hiện nay. Việc làm, phân loại việc làm *Việc làm Một trong những nguyên nhân của quan niệm đó là vì sự bao cấp của nhà nước đối với các đơn vị đó. Do đó trong giai đoạn đó nhiều lao động luôn mong muốn có được công việc trong các đơn vị hành chính, cơ sở sản xuất của nhà nước. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện đại thì nhiều lao động đã chủ động tìm việc làm tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay tự mình khởi nghiệp.
Hiện nay, xu hướng các lao động tìm đến các loại hình kinh tế khác ngoài nhà nước ngày càng đông đảo, người lao động hiện nay không còn quan trọng là làm việc trong nhà nước hay bên ngoài, mà họ chỉ cần có việc làm mang lại thu nhập cao, có điều kiện làm việc tốt miễn là việc làm đó không bị pháp luật ngăn cấm. Theo Điều 9 của Bộ luật lao động (2012) đã đưa ra rằng: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy, ở Việt nam quan điểm về việc làm có thể hiểu: “Việc làm là hoạt động lao động, làm những công việc không bị pháp luật cấm của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội”. Theo Tài liệu hướng dẫn khuyến nghị số 198 của Tổ chức ILO (2011) đưa ra quan niệm như sau: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”.
Từ những quan điểm trên cho thấy rằng việc làm được thống nhất là việc thực hiện hoạt động làm những công việc không trái phép được pháp luật thừa nhận, nhằm mục đích tạo ra thu nhập cho cá nhân, gia đình của người thực hiện hay cho xã hội. * Phân loại việc làm - Căn cứ vào nguồn gốc thu nhập, có thể chia việc làm thành: + Việc làm thu nhập tiền lương, tiền công: là làm công việc được nhận, trả tiền lương, thù lao cho các việc mình đã làm từ tổ chức, cá nhân đã thuê mình làm việc. + Việc làm thu được lợi nhuận: là việc làm mang lại lợi ích cho người lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 từ quyền sử dụng, sở hữu các công cụ sản xuất để sử dụng cho việc thực hện công việc này.