CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm liên quan đến tạo động lực cá nhân trong tổ chức 1.Khái niệm động lực Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo Mitchell, “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kế các hành vi của mình.” Theo Bolton, “Động lực một khái niệm dùng để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu.” Theo quan điểm của quản trị nhân lực thì “Động lực được biểu hiện là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm nâng cao mọi nỗ lực để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó.” [9] Từ điển kinh tế xã hội Việt Nam cho rằng: “Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc và trong những điều kiện lao động cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.” Về động lực của người lao động trong cơ quan, tổ chức có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào; Thứ hai, Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực; Thứ ba, Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc; Thứ tư, Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức. Như vậy có thể hiểu: “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khát khao và tự nguyện để đạt được các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức. Khái niệm động lực lao động Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về bản chất của động lực lao động: Theo giáo trình Hành vi Giám đốc của TS Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của Giám đốc cũng như của bản thân nhân viên” [13] Theo Giáo trình quản trị nhân lực của PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Vân Điềm: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu, kết quả nào đó” [15] Có rất nhiều định nghĩa về động lực lao động, tuy nhiên khái niệm động lực lao động được biết đến phổ biến nhất là “ Động lực lao động là yếu tố kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhất”. Động lực lao động là yếu tố thúc đẩy giúp người lao động sẵn sàng làm việc và say mê với công việc hơn nhờ đó mà các doanh nghiệp có thể thu được lợi ích lớn nhất. Biểu hiện của việc có động lực làm việc rõ ràng và cụ thể nhất là sự nỗ lực, sự chăm chỉ làm việc nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp, tổ chức cũng như mục tiêu riêng của mỗi cá nhân, bản thân người lao động.
Về cơ bản, bất cứ cá nhân nào đều cần phải có động lực lao động thì mới có thể làm việc, nếu không thì sẽ chỉ là những chuỗi ngày đi làm khó chịu, mệt mỏi, không có tinh thần và năng suất làm việc. Động lực lao động được chia thành 2 nhóm để dễ dàng giúp các doanh nghiệp và người sử dụng lao động tìm ra được các giải pháp tạo động lực cho người lao động - Động lực lao động bên ngoài Là những yếu tố bên ngoài tác động tới công tác hoàn thành nhiệm vụ hoặc mục tiêu công việc. Các yếu tố này thường là hình phạt hoặc phần thưởng và chỉ nâng giá trị và hiệu quả công việc lên khi các yếu tố đó gắn liền trách nhiệm với lợi ích cá nhân. Đó là điều mà bất cứ người lao động nào cũng phải nắm được.
- Động lực lao động bên trong Động lực lao động bên trong xuất phát từ sự hài lòng cá nhân về chính công việc mà người lao động đang làm và đảm nhiệm, là sự thoả mãn khi các cá nhân thực hiện tốt một công việc hay mục tiêu đề ra được hoàn thành, khi sự đóng góp cho doanh nghiệp mà mỗi cá nhân thấy là xứng đáng và có ích. Thường thì động lực này chỉ xuất hiện ở những cá nhân yêu thích và đam mê với công việc mà họ làm. Dễ dàng thấy được rằng động lực lao động bên trong sẽ có ý nghĩa hơn động lực lao động bên ngoài vì ở đó có sự yêu thích, có niềm đam mê riêng của cá nhân nhân mà không liên quan gì đến lợi ích của tổ chức hay doanh nghiệp. Một khi người sử dụng lao động này biết cách tạo động lực cho người lao động sẽ thu được nhiều thành quả hơn và có nhiều thành công trong các dự án đóng góp cho tổ chức hay doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hầu hết lao động bên trong đều bắt nguồn và đi kèm với động lực bên ngoài. Khái niệm tạo động lực lao động Tạo động lực trong lao động được hiểu là hệ thống chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Sau đây là một số trích dẫn thêm định nghĩa của một số tác giả như sau: Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thuý Hương (2011) thì “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [17] Theo Lê Thanh Hà (2009): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” [16] Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ. Động lực làm việc không tự nhiên xuất hiện mà là sự kết hợp đồng thời của các nguồn lực chủ quan thuộc về phía bản thân người lao động và nguồn lực khách quan thuộc về môi trường sống và làm việc của người lao động.
Tạo động lực lao động được hiểu là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn. Tạo động lực lao động làm nảy sinh động lực trong mỗi doanh nghiệp và cũng là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị muốn xây dựng doanh nghiệp vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp để kích thích người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo của họ trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp.
Tạo động lực cho người lao động là tất cả các biện pháp của nhà quản trị hướng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ nhằm thúc đẩy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của họ trong quá trình làm việc. Vấn đề quan trọng của động lực là mục tiêu nhưng làm thế nào để tạo ra những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động hăng say và nỗ lực hết mình trong công việc thì người lao động phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Nhà quản trị muốn nhân viên của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để người lao động có thể hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra một bầu không khí thi đua trong nhân viên có nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào”. Trong giai đoạn hiện nay, các nhà quản lý ngày càng quan tâm tới việc làm sao để nguồn lực này có thể phát huy một cách tốt nhất, làm sao để một nhân viên cụ thể có thể làm việc một cách hăng say, nhiệt tình nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong tập thể lao động, bên cạnh những nhân viên làm việc hăng say nhiệt tình, cống hiến hết mình để đạt kết quả thực hiện công việc cao luôn tồn tại những cá nhân làm việc trong trạng thái uể oải, chống đối, thiếu hứng thú và luôn có hiệu quả công việc thấp, gây cản trở đến sự phát triển của Công ty.
Vậy tại sao lại có sự khác biệt lớn như vậy. Vai trò của việc tạo động lực cho người lao động Tạo động lực đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn. Mặc dù quá trình tạo động lực có thể không tạo ra kết quả tức thời và đòi hỏi nhiều chi phí, thời gian thực hiện, nhưng nếu doanh nghiệp làm tốt công tác này sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho mình và cho xã hội.