CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU VIỆC TẠO ĐỘNG LỰC CHO VIÊN CHỨC KHỐI HÀNH CHÍNH CƠ SỞ II TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TẠI TP.1 Cơ sở lý luận về động lực làm việc 1.1 Khái niệm về động lực và động lực làm việc Các nhà nghiên cứu đã đưa ra không ít bài viết khoa học, bài nghiên cứu về vấn đề động lực, áp dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là động lực trong công việc. Từ đó đã đưa ra và phát triển không ít những khái niệm, lý thuyết liên quan đến chủ đề này. Trong 40 năm nghiên cứu của mình, Carolyn Wiley đã đúc kết khái niệm về động lực làm việc trong nghiên cứu “Những yếu tố tạo động lực cho nhân viên dựa theo các điều tra về động lực làm việc trong hơn 40 năm” xuất bản năm 1995. Ông cũng khẳng định rằng, khái niệm về động lực làm việc có sự thay thế, đổi mới qua các năm cùng với mức độ ảnh hưởng và trình tự ưu tiên của các yếu tố tác động đến động lực làm việc cũng có sự thay đổi qua 40 năm nghiên cứu.
Do sự thay đổi liên tục qua các năm dẫn đến sự khác biệt giữa các khái niệm động lực làm việc. Chính vì vậy, tác giả sẽ tổng hợp và giới thiệu một vài khái niệm nổi bật cũng như lựa chọn khái niệm sẽ được áp dụng trong bài nghiên cứu này.1 Khái niệm về động lực Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực. Điển hình: Theo Vroom (1964), động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Nhà nghiên cứu Mitchell (1982) lại cho rằng, động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.
Mặt khác, Robbins (1993) lại định nghĩa động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân. Dựa theo đó, nhiều nhà nghiên cứu trong các bài luận, hay các tác phẩm khoa học về chủ đề này, như Kreitner (1995), Buford, Bedeian & Linder (1995), Higgins (1994) đã định nghĩa rằng: “Động lực là một quá trình tâm lý hành vi có định hướng của con người, thể hiện khuynh hướng cư xử có chủ đích để đạt được một mục đích cụ thể, thõa mãn một nhu cầu và sẵn sàng cố gắng thực hiện”. 10 Hay theo Mullins (2007), động lực có thể được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt được mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi. Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân đã đúc kết khái niệm động lực trong giáo trình xuất bản năm 2007 như sau: “Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể.
Nói cách khác, động lực bao gồm tất cả các lý do khiến con người hành động”. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009), động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Đồng thời, các tác giả cũng nêu rõ, khi bàn về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thường thống nhất ở một số điểm sau đây: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào.
- Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. - Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc.
- Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức. Sau khi tìm hiểu các khái niệm về động lực của các học giả, các nghiên cứu gia trên thế giới và Việt Nam nói trên, có thể rút ra được một kết luận rằng, động lực nói chung về bản chất có liên quan chặt chẽ đến việc thúc đẩy, tạo năng lượng nội tại cho các cá nhân để định hướng tư tưởng, hành vi theo một hướng trong một điều kiện cụ thể với một khoảng thời gian nhất định. Trong phạm vi của luận văn thạc sĩ này, đồng quan điểm với các tác giả Kreitner (1995), Buford, Bedeian & Linder (1995), Higgins 11 (1994), tác giả cho rằng: “Động lực là một quá trình tâm lý hành vi có định hướng của con người, thể hiện khuynh hướng cư xử có chủ đích để đạt được một mục đích cụ thể, thõa mãn một nhu cầu và sẵn sàng cố gắng thực hiện”.
Do khái niệm này mô tả rõ nét được nguồn gốc hình thành, xu hướng phát triển và kết quả của động lực.2 Khái niệm về động lực làm việc Động lực làm việc là một khái niệm hàm chứa sự cảm tính và thay đổi tuỳ thuộc vào từng người. Chính vì thế mà hai nhà khoa học Kleinginna & Kleinginna (1981) đã tổng hợp và phân loại ít nhất 140 định nghĩa khác nhau về động lực làm việc. Trong khuôn khổ khóa luận này, người viết sẽ tổng hợp và đưa ra một số khái niệm được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu và thực tiễn. - Trên thế giới: Tiêu biểu nhất có thể kể đến quan điểm của Herzberg (1959) trong chính tác phẩm của mình “The motivation to work”.
Trong đó, tác giả định nghĩa: “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Theo nhà nghiên cứu Robbins (1998), “Động lực làm việc (work motivation) được định nghĩa là sự sẵn sàng cố gắng hết sức để đạt được mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ” (Robbins, 1998). Greenberg J và Baron (2003), khái niệm động lực làm việc xuất hiện trong quyển sách “Hành vi tổ chức” (Beahaviour in Organisations) được chia làm ba phần chính. Phần thứ nhất đề cập đến sự kích thích dẫn đến việc các hành động, động cơ, nguồn lực được định hướng đằng sau những hành vi của cá nhân.
Những sự kích thích ấy khiến mỗi người có khuynh hướng làm những việc mà họ quan tâm, yêu thích, một phần để gây ấn tượng lên người khác, một phần để cảm thấy công việc thú vị mà phấn đấu đạt những mục tiêu chính họ đề ra. Phần kế tiếp đề cập đến sự lựa chọn và xu hướng thực hiện hành vi của con người. Tiếp nối là phần cuối với việc duy trì, xác định những hành vi cụ thể nhằm kiên trì thực hiện để đạt được mục đích cuối cùng. Tương tự với ý tưởng trên, Mitchell (1982) cũng cho rằng động lực bị thúc đẩy bởi yếu tố tâm lý và hành vi mà một người điều khiển hành động của mình để đạt được những mục tiêu mình mong muốn.
Cụ thể, Mitchell (1982) phát biểu rằng “Động lực làm việc được thể hiện thông qua quá trình tâm lý nhằm tạo ra sự kích thích, điều khiển và duy 12 trì thực hiện các hoạt động tự nguyện theo mục tiêu đã được định hướng”. Dường như việc giả thiết động lực làm việc có liên quan đến việc đạt được mục tiêu đã đề ra được rất nhiều nhà nghiên cứu đồng tình. Latham & Ernst định nghĩa động lực làm việc như là “một quá trình tâm lý do sự tương tác lẫn nhau giữa cá nhân và môi trường, mà quá trình đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn, nổ lực và sự kiên trì của cá nhân đó” (Latham & Ernst, 2006). Thông qua việc kết hợp sử dụng các định nghĩa của Vroom (1964), Steers, Mowday và Shapiro (1981), Locke, Shaw, Saari & Latham (1981), Jones (1995), tác giả Craig C.
Pinder (1998) đã đưa ra khái niệm về động lực làm việc trong quyển “Động lực làm việc trong hành vi tổ chức” như sau: “Động lực làm việc là tập hợp những nguồn lực bắt nguồn từ cả bên trong bản chất mỗi con người và môi trường bên ngoài giúp hình thành những hành vi liên quan đến công việc, đồng thời định hướng, quyết định hình thức, thời điểm và cường độ của hành vi đó”. Pinder (1998) tin rằng khái niệm ông tổng hợp và đưa ra có nhiều điểm nổi trội so với các khái niệm trước đó. Thứ nhất, khái niệm của Pinder vừa đủ cụ thể để áp dụng lên các cá thể trong công việc và sự nghiệp nhưng cũng đủ bao quát và tránh được những điểm “chung chung”, mơ hồ mà các nhà nghiên cứu trước mắc phải. Điểm đặc biệt trong khái niệm này là vấn đề “nguồn lực”.
Đây là vấn đề then chốt trong khái niệm này khi nó không chỉ giúp định nghĩa này thống nhất với các định nghĩa trước đó mà còn có thể cho thấy được mức độ mạnh yếu của động lực làm việc tuỳ thuộc theo từng hoàn cảnh cụ thể. - Tại Việt Nam: Tiếp thu và nghiên cứu sâu về vấn đề động lực làm việc, các nhà nghiên cứu, học giả cũng đã đưa ra không ít những định nghĩa về vấn đề này. Hai tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009), khái niệm động lực của người lao động như sau: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.
Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào”.