Tài liệu: Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Tỉnh Hà Tĩnh đang triển khai các giải pháp hiệu quả nhằm thu hút vốn FDI, tạo động lực phát triển kinh tế bền vững cho địa phương.

Trường đại học

Trường Đại Học Thăng Long

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2023

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức quan trọng của hoạt động đầu tư quốc tế, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài cấp vốn để xây dựng và phát triển các doanh nghiệp tại địa phương. Đây là một công cụ mạnh mẽ để tăng cường thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Vốn FDI có những đặc điểm nổi bật như: tính dài hạn, sự cam kết về lâu dài của các nhà đầu tư, khả năng tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương. Các hình thức đầu tư trực tiếp bao gồm: thành lập công ty con, liên doanh, mua cổ phần hay mở rộng doanh nghiệp hiện có. Việc hiểu rõ bản chất của FDI là nền tảng để xây dựng những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư hiệu quả và bền vững.

1.1. Định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là luồng vốn từ các nhà đầu tư quốc tế nhằm xây dựng các hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương. Đây là một hình thức đầu tư quốc tế có tính chủ động cao, với mục tiêu dài hạn là kiểm soát hoạt động sản xuất và chia sẻ lợi nhuận.

1.2. Tác động của FDI đối với phát triển địa phương

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những tác động tích cực như: tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, nâng cao kỹ năng lao động, tăng thu ngân sách và thúc đẩy tăng cường kinh tế của địa phương, đặc biệt là tại các tỉnh có môi trường đầu tư phát triển.

II. Thực trạng thu hút vốn FDI tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2018 2022

Tỉnh Hà Tĩnh đã có những nỗ lực đáng kể trong việc tăng cường thu hút vốn đầu tư trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tổng vốn FDI vào tỉnh vẫn chưa đạt mức mong muốn so với tiềm năng và so sánh với các tỉnh khác. Số lượng dự án FDI được cấp phép có xu hướng biến động, phụ thuộc vào các yếu tố như chính sách, cơ sở hạ tầng và tình hình kinh tế toàn cầu. Cơ cấu vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, và dịch vụ. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực FDI đã tăng dần, góp phần tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy đạt được một số thành tựu, nhưng thu hút đầu tư nước ngoài tại Hà Tĩnh vẫn còn gặp nhiều thách thức về hạ tầng, chính sách, và xúc tiến đầu tư.

2.1. Tổng vốn FDI và tốc độ tăng trưởng

Tổng vốn FDI vào Hà Tĩnh trong giai đoạn 2018-2022 đã có sự thay đổi đáng chú ý. Tốc độ tăng vốn phụ thuộc vào các chính sách thu hút và môi trường đầu tư của tỉnh. Các năm có tốc độ tăng cao thường liên quan đến các dự án FDI lớn, trong khi các năm khác có sự sụt giảm do các yếu tố khách quan.

2.2. Cơ cấu và phân bố dự án FDI

Cơ cấu FDI tại Hà Tĩnh phân bố không đều giữa các ngành kinh tế, đối tác đầu tư, và đơn vị hành chính. Các dự án FDI chủ yếu từ các nước Châu Á, tập trung ở các khu công nghiệp lớn. Việc phân tán đầu tư giúp tăng cường phát triển toàn diện, nhưng cần có định hướng chiến lược rõ ràng hơn.

III. Những thách thức trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tỉnh Hà Tĩnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các nhà đầu tư, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông, điện năng và viễn thông. Chất lượng nguồn nhân lực cần được nâng cao thông qua đào tạo và chuyên môn hóa. Các chính sách thu hút vốn đầu tư chưa đủ hấp dẫn so với các địa phương cạnh tranh. Xúc tiến đầu tư còn hạn chế về hình thức và hiệu quả, chưa tạo được sự chú ý của các nhà đầu tư tiềm năng. Thêm vào đó, môi trường đầu tư còn gặp khó khăn về các thủ tục hành chính, bảo vệ môi trường, và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Các yếu tố này đều ảnh hưởng đến khả năng tăng cường thu hút vốn đầu tư của địa phương.

3.1. Những hạn chế về cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của Hà Tĩnh vẫn còn nhiều khoảng trống, đặc biệt là mạng lưới giao thông kết nối giữa các khu công nghiệp. Mức độ hiện đại hóa còn chậm, chi phí xây dựng hạ tầng cao, ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và tăng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp FDI.

3.2. Hiệu quả xúc tiến đầu tư còn hạn chế

Xúc tiến đầu tư tại Hà Tĩnh chủ yếu sử dụng các phương pháp truyền thống, chưa tận dụng hết các công cụ hiện đại. Hoạt động quảng bá về vốn đầu tưcơ hội kinh doanh còn chưa đủ mạnh, dẫn đến nhận thức của nhà đầu tư về tiềm năng của Hà Tĩnh vẫn còn hạn chế.

IV. Giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Để tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh Hà Tĩnh cần tập trung vào việc xây dựng các chính sách thu hút vốn đầu tư có sức cạnh tranh cao, đối với cả các yếu tố chủ quan và khách quan. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Đồng thời, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các chương trình đào tạo và chuyên môn hóa là rất quan trọng. Cần đẩy mạnh xúc tiến đầu tư bằng các phương pháp hiện đại, tham gia các sàn giao dịch đầu tư quốc tế. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ công sẽ giúp giảm bớt gánh nặng hành chính. Cuối cùng, cần có định hướng phát triển kinh tế-xã hội rõ ràng và bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển bền vững của FDI trong địa phương.

4.1. Đẩy mạnh xây dựng chính sách thu hút vốn đầu tư

Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần được thiết kế để tạo lợi thế cạnh tranh với các địa phương khác. Cần xem xét các ưu đãi thuế, bảo hiểm đầu tư, và hỗ trợ hạ tầng. Định hướng thu hút vốn đầu tư nên tập trung vào những ngành có lợi thế so sánh và phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn của tỉnh.

4.2. Nâng cao hiệu quả xúc tiến và phát triển doanh nghiệp

Xúc tiến đầu tư cần sử dụng các công nghệ số, tham gia các hội chợ và sàn giao dịch quốc tế, xây dựng mạng lưới liên hệ với các nhà đầu tư tiềm năng. Cần tăng cường xúc tiến bằng các tài liệu quảng bá chuyên nghiệp và các chương trình roadshow nhằm giới thiệu cơ hội kinh doanhmôi trường đầu tư của Hà Tĩnh.

18/12/2025
Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh hà tĩnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế với xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia muốn phát triển không chỉ dựa vào nguồn lực của đất nước mình mà còn phải hội nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, kết hợp nguồn lực bên trong để phục vụ phát triển kinh tế.

Nguồn VĐT trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nguồn vốn được các quốc gia rất quan tâm, kể cả nước phát triển và các nước ĐPT. Cho đến nay, nhiều khái niệm về FDI đã được đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Xem xét đến NĐT và quyền quản lý, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một NĐT từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.

Trong phần lớn trường hợp, cả NĐT lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, NĐT thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”” (WTO, 1996). Tương tự với cách tiếp cận trên, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) còn đề cập đến lợi ích lâu dài trong hoạt động đầu tư của FDI. Cụ thể như sau: IMF (1993) đưa ra khái niệm FDI là “Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (NĐT trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.

Mục đích của NĐT trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”. Thuật ngữ “lợi ích lâu dài” được hiểu là mối quan hệ dài hạn giữa NĐT và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ ảnh hưởng nhất định của NĐT đối với công tác quản trị hoạt động tại doanh nghiệp nhận khoản VĐT. IMF còn làm rõ thêm về quyền quản lý của NĐT đó là một NĐT nước ngoài không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ công ty họ đầu tư, mà chỉ cần nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần hoặc quyền biểu quyết trong doanh nghiệp đó. 1 Tương tự, OECD (1996) cũng cùng quan điểm với IMF khi cho rằng NĐT cần nắm giữ ít nhất 10% cổ phần hoặc quyền bỏ phiếu trong doanh nghiệp liên kết, hoặc giá trị tương đương đối với doanh nghiệp không liên kết.

Tuy nhiên, điểm khác biệt là OECD xây dựng tỷ lệ phần trăm này dựa trên quan điểm của các doanh nghiệp FDI chứ không dựa trên dòng vốn FDI thực tế. Điều đó lý giải tại sao ở một số quốc gia khoản vốn ĐTNN dưới 10% cổ phần hoặc quyền bỏ phiếu vẫn được coi là vốn FDI. Cũng đề cập đến “lợi ích lâu dài”, UNCTAD (2013) nhận định rằng “FDI là việc đầu tư dài hạn gắn liền với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia này (nhà ĐTNN hay công ty mẹ) vào một công ty ở một quốc gia khác (công ty có vốn FDI hay công ty con)”. Theo đó, UNCTAD đưa ra khái niệm FDI dựa trên khía cạnh mục tiêu của khoản đầu tư, không sử dụng tỷ lệ vốn cổ phần tối thiểu tại doanh nghiệp FDI như IMF và OECD.

Ở góc độ NĐT và hoạt động theo quy định, theo Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2005, “đầu tư là việc NĐT bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Trong đó, “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do NĐT bỏ VĐT và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung 2014 và đã được thay thế bằng Luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung 2020 có hiệu lực ngày 01/01/2021 lại không phân biệt giữa đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp mà gọi chung là “đầu tư kinh doanh” và đưa ra khái niệm “tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN là tổ chức kinh tế có nhà ĐTNN là thành viên hoặc cổ đông” vậy có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài ở đây là việc NĐT nước ngoài bỏ VĐT để hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế đủ lớn để giành quyền điều hành đối với tổ chức kinh tế đó; hoặc đầu tư theo hình thức hợp đồng hay thực hiện dự án Kết hợp những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc NĐT nước ngoài bỏ vốn để hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế đủ lớn để giành quyền điều hành đối với tổ chức kinh tế đó; hoặc đầu tư theo hình thức hợp đồng hay thực hiện dự án. Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài VĐT trực tiếp nước ngoài có nhiều đặc điểm khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát ở những điểm cơ bản sau: Thư viện ĐH Thăng 2 Long Một là, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là VĐT phát triển dài hạn.

VĐT trực tiếp nước ngoài gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh SXKD tại nước tiếp nhận đầu tư thông qua thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau (OECD, 1996). Do FDI là hình thức đầu tư có tính vật chất ở nước nhận đầu tư nên không dễ rút đi trong một thời gian ngắn như đầu tư gián tiếp (hình thức đầu tư có thu nhập thông qua việc mua bán chứng khoán cổ phiếu hoặc trái phiếu…) Vì thế, vốn FDI là VĐT phát triển dài hạn và đây cũng được xem là điểm khác biệt cơ bản giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Hai là, chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành và tự chịu trách nhiệm về kết quả SXKD trong hoạt động sử dụng VĐT của mình. Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, NĐT vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng VĐT.

Chủ sở hữu vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình SXKD. Thu nhập từ hoạt động đầu tư vốn này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả SXKD, theo đó mức độ lãi được chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên, nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần góp vốn đó. Cũng vì thế, NĐT được tự chủ hoàn toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, toàn quyền đưa ra các quyết định tài chính và chịu trách nhiệm lãi lỗ của khoản đầu tư. Đây có thể xem là ưu điểm của vốn FDI so với các loại vốn khác (ví dụ như ODA) khi có thể tạo động lực thúc đẩy NĐT tập trung đưa ra những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Ba là, việc phân chia thành viên Hội đồng quản trị và điều hành quá trình sử dụng vốn đều dựa trên tỷ lệ góp vốn của chủ sở hữu vốn. Tỷ lệ vốn góp sẽ quyết định quyền quản lý, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn của chủ đầu tư. Vốn FDI có sự gắn kết trực tiếp với quyền sử dụng của NĐT. NĐT có tỷ lệ vốn FDI càng lớn, thì càng có nhiều quyền trong quản lý doanh nghiệp tiếp nhận vốn.

Nếu tỷ lệ vốn FDI là 100%, thì NĐT có toàn quyền quyết định các hoạt động của doanh nghiệp (Đặng Quý Dương, 2014). Một NĐT trực tiếp nước ngoài không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ công ty họ đầu tư, mà họ chỉ cần nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần hoặc quyền biểu quyết trong doanh nghiệp đó (IMF, 1993). Do NĐT muốn đầu tư vào thì phải tuân thủ các quy định của nước sở tại nên tỷ lệ vốn tối thiểu của NĐT đóng góp vào vốn pháp định của dự án là do luật pháp của nước đó quyết định để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát DN nhận đầu tư. 3 Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này.

Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, theo quy định của OECD (1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của các DN - mức được công nhận cho phép các NĐT nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý DN, còn ở Việt Nam trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 có quy định rõ NĐT nước ngoài phái góp vốn tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án nhưng theo Luật Đầu tư năm 2005 không còn quy định về tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài. Tuy nhiên đối với một số ngành, lĩnh vực vẫn quy định tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài cũng như hình thức đầu tư để phù hợp với cam kết của WTO, ví dụ: Bảo hiểm, y tế, giáo dục, dịch vụ giao nhận (đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt buộc phải dưới hình thức DN liên doanh với tỷ lệ vốn góp phía nước ngoài chiếm tối đa 49% tổng VĐT) (Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam, 2006). Bốn là, vốn FDI không phải hoàn trả nợ, không tạo gánh nặng nợ quốc gia và không có những ràng buộc về chính trị khác tại nước sở tại. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với nguồn vốn ĐTNN khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không có những ràng buộc về chính trị và không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận đầu tư (Đặng Thành Cương, 2012).

Mặc dù, vốn FDI vẫn chịu sự chi phối của chính phủ nhưng ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên do FDI là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân và hoạt động với mục đích cơ bản là lợi nhuận, bên nước ngoài trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý và vận hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ