Chương 1: Cơ sở lý thuyết về FDI và thu hút FDI trong phát triển kinh tế địa phương. Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015- 2017. Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút FDI vào tỉnh Bắc Giang đến năm 2025. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƢƠNG 1.
Tổng quan về FDI 1. Khái niệm FDI Hiện nay, có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập đến khái niệm FDI. Song tất cả đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này. Có thể kể đến một vài quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài: Theo IMF thì FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư.
Mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự đối với doanh nghiệp của mình đặt tại nền kinh tế đó. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước khác cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996) đã nêu: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” [Khoản 1, Điều 2]. Như vậy, có thể thấy dù cách nhìn nhận khác nhau, nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức xuất khẩu tư bản trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Nhà đầu tư nước ngoài có một lượng vốn lớn đầu tư sang một quốc gia khác và tuân thủ theo các quy định của pháp luật do nước đó quy định nhằm thu lợi nhuận cao.
Quá trình đầu tư ra nước ngoài là một quá trình tất yếu khách quan của sản xuất mà cốt lõi của nó là các 8 thành tựu khoa học và công nghệ. Đó là hệ quả của quá trình tích tụ và tập trung tư bản vượt qua giới hạn khuôn khổ của một quốc gia, đòi hỏi phải được thoát ra khỏi lãnh thổ để tiếp tục quá trình phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà tư bản. Đặc điểm của nguồn vốn FDI FDI có một số đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, chủ đầu tư dòng vốn FDI là chủ sở hữu vốn. Chủ sở hữu vốn FDI thực hiện quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với phần vốn góp đó theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư dưới hình thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, nếu góp vốn thì quyền này phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư trong vốn điều lệ của doanh nghiệp. Thu nhập từ hoạt động đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ lãi được chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên, nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần góp vốn đó. Thứ hai, dòng vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ (mức vốn mà các thành viên hoặc cổ đông cam kết góp vào doanh nghiệp) mà nó còn bao gồm cả phần vốn vay của nhà đầu tư để triển khai thực hiện dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế của kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy nước sở tại phải có chính sách về tài chính phù hợp, tránh trường hợp một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nước sở tại để thực hiện đầu tư, mở rộng kinh doanh làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút vốn đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận dự án.
Thứ ba, dòng vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ nước ngoài, vì vậy đối với nước tiếp nhận dự án đầu tư thì đây chính là nguồn vốn dài hạn bổ sung hết sức cần thiết cho nền kinh tế. Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn liền với các dự án đầu tư trong các lĩnh vực như: công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, khai thác khoáng sản. Việc triển khai thực hiện các dự án đòi hỏi phải có thời gian để các nhà đầu tư đầu tư và thu hồi vốn. Do đó, các dự án FDI thường có thời hạn đầu tư dài, đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, có tính ổn định cao tại nước tiếp nhận đầu tư.
9 Đây là đặc điểm phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư đến các nước khác nhưng không nắm quyền quản lý, điều hành, thông qua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu. Đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp là có thời gian hoạt động ngắn, biến động bất thường hơn vì đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Thứ tư, dòng vốn FDI là hình thức đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài, họ mang vốn đến nước khác để đầu tư nhằm thu lợi nhuận.
Vì vậy khác với các nguồn vốn vay, vốn FDI tại nước sở tại không phải hoàn trả nợ và cũng không tạo gánh nặng nợ quốc gia (nợ công). Đây là một ưu điểm so với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) hay vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài. Việc mang vốn từ bên ngoài vào đầu tư tại nước sở tại sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn so với các khoản vốn vay quốc gia khác do không tạo gánh nặng nợ công. Nguồn vốn này có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam.
Để được gọi là vốn FDI thì nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn nhất định trong vốn điều lệ của doanh nghiệp, tỷ lệ này tùy theo quy định của từng quốc gia và được thay đổi theo từng giai đoạn. Thứ năm, dòng vốn FDI là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lợi nhuận cao và các nhà đầu tư nước ngoài quyết định về quy mô vốn và sử dụng vốn FDI. Do các nhà đầu tư luôn hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nên có thể gây ra nhiều bất lợi, tổn thất ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước tiếp nhận đầu tư như vấn đề gian lận thương mại, chuyển giá, ô nhiễm môi trường… Đặc điểm về mặt số lượng và chất lượng của dòng vốn FDI Thứ nhất, số lượng dòng vốn FDI: Thể hiện số lượng các dự án, quy mô vốn đăng ký của các dự án FDI vào các địa phương trong một khoảng thời gian xác định. Giai đoạn phát triển kinh tế trước đây, chúng ta tìm mọi cách để thu hút vốn FDI càng nhiều càng tốt, thu hút bằng mọi giá.
Như vậy mục tiêu thu hút đó chỉ 10 nhấn mạnh đến sự gia tăng về số lượng các dự án, về số vốn thu hút được mà chưa quan tâm, chú trọng đến các tác động lan tỏa, chất lượng, hiệu quả của các dự án FDI. Thứ hai, chất lượng dòng vốn FDI là thuộc tính bên trong của dòng vốn, được thể hiện ở cấu trúc dòng vốn, tính hiệu quả của dòng vốn và tác độn g lan tỏa của nó đến các đối tượng hưởng lợi. Chuyển sang giai đoạn mới, việc tiếp tục tìm các biện pháp thu hút vốn FDI để phát triển vẫn là điều tất yếu và đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc thu hút nguồn vốn FDI trong giai đoạn hiện nay cần có cách tiếp cận mới, phù hợp với định hướng, quan điểm phát triển kinh tế bền vững, quan tâm về số lượng, nhưng phải chú trọng đến chất lượng cũng như tác động lan tỏa của dòng vốn FDI.
Tăng cường thu hút vốn FDI cần được xem xét dưới góc độ phù hợp với mục tiêu của chiến lược kinh tế - xã hội của các địa phương. Vì vậy, mục tiêu thu hút vốn FDI cần trả lời được các câu hỏi đặt ra đó là: - Thu hút vốn FDI có phù hợp với chủ trương, quy hoạch, định hướng phát triển của địa phương hay không. - Có những đóng góp gì cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Có tác động bất lợi gì đến đến môi trường sinh thái, an ninh trật tự, an toàn xã hội, cuộc sống của nhân dân hay không.
Thu hút vốn FDI vào địa phương phải tránh tư tưởng chạy theo số lượng các dự án, quy mô vốn đăng ký, thu hút bằng mọi giá mà phải kết hợp, chú trọng đến hiệu quả sử dụng vốn FDI với mục đích gắn kết giữa phát triển nhanh và bền vững, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Mặt số và chất lượng dòng vốn FDI là hai mặt của một vấn đề thu hút và sử dụng FDI của mỗi địa phương. Các địa phương luôn cần phải quan tâm đến cả hai mặt. Tuy nhiên, trên từng khía cạnh cụ thể thì hai mặt này có vẻ như mâu thuẫn với nhau.