CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Những khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”[18]. Có rất nhiều khái niệm về đầu tư do các học giả cả nước ngoài và trong nước đưa ra.
Theo “The New Palgrave Dictionary of Money and Finance” của Peter Newman Murray, John Eatwell biên soạn thì “đầu tư là một sự hình thành vốn thụ đắc hay tạo ra một nguồn tài nguyên sẽ được dùng trong sản xuất”. Trong cuốn “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, PGS.TS Trần Ngọc Thơ đưa ra khái niệm “đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai”[22]. Còn theo Từ điển Quản lý Ngân hàng thì tùy theo quan điểm sẽ có ba khái niệm chính về đầu tư : ) Theo quan điểm kinh tế : Đầu tư là tạo một số vốn cố định tham gia vào hoạt động của xí nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp. Đây là vấn đề tích lũy các yếu tố vật lý chủ yếu về sản xuất hay thương mại.
) Theo quan điểm tài chính : Đầu tư là làm bất động một số vốn nhằm rút ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ nối tiếp. 6 ) Theo quan điểm kế toán : Khái niệm đầu tư gắn liền với phân bổ một khoản chi vào một trong các khoản mục của bảng cân đối kế toán. Tuy có rất nhiều cách khái niệm về đầu tư nhưng có thể hiểu một cách đơn giản “đầu tư là một hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ do hai khái niệm ghép lại đó là khái niệm “đầu tư trực tiếp” và khái niệm “đầu tư nước ngoài”.
Theo đó “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”[18]. Do đó có thể hiểu “đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam”.Graham “đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) thụ đắc quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư)”.Daniesl và Lee H. Radebaugh trong cuốn “kinh doanh quốc tế” của NXB thống kê, 2005 thì “việc bán ở ngoại quốc đang được thực hiện ngày càng nhiều hơn từ các cơ sở sản xuất được điều hành ở nước ngoài.
Điều này gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)”[7]. Nguyễn Khắc Thân thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài là dạng đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ bên ngoài mà chủ thể của nó là tư nhân hay nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những ngành hoặc những lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định”[20]. 7 Trong sách “tài chính quốc tế” của trường Đại học Kinh tế TPHCM xuất bản năm 2002 thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát kinh tế ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư)”. Tóm lại, ĐTTTNN có thể được định nghĩa là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ sở hữu vốn sẽ trực tiếp điều hành sử dụng vốn bỏ ra.
Chủ thể của ĐTTTNN chủ yếu là các công ty đa quốc gia (MNC), chiếm hơn 90% khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới, phần còn lại thuộc về các chính phủ và các tổ chức quốc tế khác. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTTTNN xét theo khía cạnh là loại đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điều hành thì ĐTTTNN đã xuất hiện từ thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản. Bước sang thế kỷ XIX khi mà chủ nghĩa đế quốc ra đời và phát triển thì ĐTTTNN cũng phát triển mạnh với việc xem các nước thuộc địa là những nước tiếp nhận đầu tư. Như vậy ban đầu ĐTTTNN bị kỳ thị xem đây như là một cách thức bóc lột của các nước tư bản đối với thuộc địa.
Tuy nhiên, nó cũng mang lại lợi ích cho các nước thuộc địa như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sắt, cầu đường, cảng biển, sân bay, những đô thị lớn.) đó là những yếu tố quan trọng giúp cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước thuộc địa. Điều mà các nước đế quốc cho rằng đó là “khai hóa văn minh”. Trải qua lịch sử phát triển kinh tế quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thật sự trở thành hình thức hợp tác kinh doanh quốc tế có hiệu quả nên nó không những được hoan nghênh, mời chào mà còn có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia để lôi kéo loại đầu tư này. 8 Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn bị ràng buộc bởi sự có hạn của các yếu tố đầu vào của sản xuất (tài nguyên, lao động) và sự hạn chế đầu ra của sản xuất (thị trường).
Đây là những yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tư chuyển vốn của mình ra đầu tư ở nước ngoài. Hay nói cách khác, việc tìm kiếm theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, động cơ và mục đích cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tư khi tìm kiếm yếu tố sản xuất và thị trường ở nước ngoài. Khi một hàng hóa ở giai đoạn chín muồi, sản lượng đã tăng lên nhanh chóng thì hai hiện tượng ngược chiều diễn ra đó là cung lớn hơn cầu tạo áp lực phải giảm giá nhưng ngược lại với sự sản xuất quá nhiều hàng hóa đó thì các nguồn tài nguyên trở nên khan hiếm hơn, giá nhân công trở nên đắt hơn. Áp lực này đòi hỏi nhà sản xuất phải tìm kiếm thị trường ở nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm và tìm kiếm nguồn tài nguyên cũng như nhân công ở các nước với giá rẻ hơn.
Trong kinh tế hiện đại, nền sản xuất không thể tồn tại trong khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia. Theo cách truyền thống thì nhà sản xuất tìm kiếm thị trường nước ngoài bằng cách xuất khẩu. Nhưng trong điều kiện mậu dịch quốc tế còn nhiều trở ngại như hàng rào thuế quan, chính sách hạn chế hoặc cấm nhập một số loại hàng hóa để thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước của một số quốc gia đã làm cho hình thức xuất khẩu để thâm nhập thị trường nước ngoài của nhà sản xuất gặp khó khăn. Trong trường hợp này đầu tư trực tiếp để sản xuất ngay tại nước ngoài là một lựa chọn khôn ngoan.
Nhà đầu tư nước ngoài không những né tránh được hàng rào thuế quan, chính sách nhập khẩu của nước tiếp nhận đầu tư mà còn tận dụng được chính sách hướng về xuất khẩu và các ưu đãi về thuế cũng như ưu đãi về giá cho thuê cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. 9 Cuối cùng là động cơ chính trị. Khi các chính phủ tham dự vào đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể nhằm đạt đến một vài lợi thế chính trị đó là mở rộng phạm vi ảnh hưởng hoặc nhằm đạt được việc cung cấp các nguồn lực chiến lược. Ví dụ nếu một công ty của Mỹ kiểm soát việc sản xuất nguyên vật liệu quan trọng tại một quốc gia kém phát triển, họ có thể ngăn chặn các quốc gia thù địch tiếp cận sản xuất.
Chẳng hạn trong đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, chính phủ Mỹ đã tạo rất nhiều khuyến khích khác nhau nhằm tăng khả năng sinh lợi của đầu tư nước họ vào các quốc gia Caribé không thân thiện với Cuba. Lý do là những khích lệ này sẽ thu hút nhiều đầu tư hơn vào vùng này làm cho kinh tế các nước đó mạnh lên với mục đích quảng bá cho hình ảnh các quốc gia thân thiện với Mỹ và nhằm cô lập Cuba. Tóm lại: Bản chất ĐTTTNN là - Mở rộng thị trường. - Tìm kiếm nguồn lực.
- Động cơ chính trị phụ thêm. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu Tư năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam thì có 6 hình thức đầu tư trực tiếp, nhưng đây là luật dùng chung cho đầu tư trong nước và đầu từ nước ngoài nên chỉ cần thêm yếu tố nước ngoài ta sẽ có đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Theo hình thức này nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức 100% vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. 10 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấp chứng nhận đầu tư. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT - Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Bussiness Cooperation Contract: gọi tắt là hợp đồng BCC) là hợp đồng do một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài ký kết với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước để tiến hành đầu tư, kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.