Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1. Thanh khoản Dưới góc độ tài sản, thanh khoản là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền. Tính thanh khoản của tài sản được đo lường qua các tiêu chí: thị trường giao dịch, chi phí giao dịch, thời gian giao dịch.
Một tài sản được xem là thanh khoản nếu có thị trường giao dịch rộng lớn, dễ dàng mua đi bán lại, chi phí giao dịch thấp, thời gian giao dịch nhanh. Dưới góc độ quản trị ngân hàng, thanh khoản là khả năng của ngân hàng sử dụng, tìm kiếm các nguồn tiền để đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chi trả tiền gửi,cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả, cấp tín dụng của khách hàng với chi phí hợp lý. Cung - cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản Cung thanh khoản (luồng tiền vào) là số tiền sẵn có hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng.
Cung thanh khoản bao gồm: - Các khoản tiền gửi bổ sung của khách hàng: Đây được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất đối với ngân hàng để duy trì khả năng thanh khoản thường xuyên. Bao gồm các loại tiền gửi mới, tiền gửi bổ sung hay kéo dài thời hạn tiền gửi. - Các khoản tín dụng sẽ thu về: Đây được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng thứ hai của ngân hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm khoảng 60 – 70% tổng thu nhập) trong toàn bộ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nếu mọi khoản tín dụng được hoàn trả đúng hạn và đầy đủ cả gốc và lãi thì không những đảm bảo kinh doanh có lãi mà còn góp phần quan trọng đảm bảo nguồn cung thanh khoản cho ngân hàng. - Thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ: Là thu nhập từ các dịch vụ như mở và thông báo L/C, bảo lãnh ngân hàng, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn… Với xu hướng phát triển của các ngân hàng hiện đại thì tỷ trọng thu nhập từ cung cấp dịch vụ ngày càng cao nên ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nguồn cung thanh khoản cho ngân hàng. - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng: Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, ngân hàng có thể chuyển hóa một phần tài sản Có thanh khoản thành tiền mặt tức thời. Tài sản Có thanh khoản của ngân hàng chủ yếu bao gồm trái phiếu, tín phiếu kho bạc, ngoài ra còn có trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu của các ngân hàng và các công ty có hạng tín nhiệm cao.
- Vay mượn trên thị trường tiền tệ: Ngân hàng có thể đi vay các ngân hàng khác hoặc vay NHTW để bổ sung vốn thanh khoản. Vay mượn trên thị trường tiền tệ có thể là các khoản vay mới, gia hạn và tuần hoàn nợ vay, ký kết hạn mức tín dụng hay bằng các hợp đồng mua lại. Cầu thanh khoản (luồng tiền ra) là số tiền ngân hàng có nhu cầu chi trả ngay lập tức hoặc trong một thời gian ngắn. Cầu thanh khoản bao gồm: - Khách hàng rút các khoản tiền gửi: Đây là nhu cầu thanh khoản chủ yếu, thường xuyên của ngân hàng.
Bao gồm: tất cả các loại tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi phát hành séc, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, tiền gửi có kỳ hạn thanh toán khi đến hạn, thanh toán kỳ phiếu, trái phiếu đến hạn. - Nhu cầu tín dụng của các khách hàng có chất lượng: Đây là các quan hệ tín dụng mà ngân hàng muốn duy trì. Bao gồm nhu cầu cấp tín dụng mới, gia hạn khi khoản vay đến hạn, sử dụng hạn mức tín dụng hay thực hiện các cam kết tín dụng. - Thanh toán các khoản vay: Đây là quan hệ tín dụng trên thị trường tiền tệ, bao gồm hoàn trả tiền vay cho các ngân hàng khác và cho NHTW.
- Chi phí hoạt động và trả thuế: Gồm chi phí hoạt động như chi tiền lương, tiền thưởng, mua sắm tài sản, chi sử dụng dịch vụ mua ngoài, chi trả thuế các loại. - Thanh toán cổ tức cho cổ đông: Chi cổ tức bằng tiền cho tất cả các loại cổ phiếu do ngân hàng phát hành. Yếu tố thời điểm thanh khoản là hết sức quan trọng, có thể là: Nhu cầu thanh khoản phát sinh tức thời (hay trong ngắn hạn) đối với ngân hàng. Ví dụ, một số khách hàng có số dư tiền gửi lớn quyết định rút tiền về hay các khách hàng quyết định sử dụng hạn mức tín dụng được cấp.
Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời, nhà quản trị phải có các biện pháp cụ thể như tăng nguồn cung bằng cách đi vay vốn bổ sung trên thị trường tiền tệ. Nhu cầu thanh khoản trong dài hạn: Gồm các nhu cầu có tính thời vụ, chu kỳ hay xu hướng. Ví dụ, nhu cầu rút tiền nhiều vào mùa hè để chi tiêu cho kỳ nghỉ hay dịp cuối năm để chuẩn bị cho Tết. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong dài hạn, nhà quản trị ngân hàng phải có các kế hoạch khả thi.
Ngoài những nguồn cung thanh khoản thường xuyên như tiền gửi bổ sung của khách hàng, các khoản tín dụng thu về và thu nhập của ngân hàng thì cần tăng lượng tiền mặt dự trữ, tăng tích trữ các tài sản thanh khoản như trái phiếu, tín phiếu kho bạc hay ký các hạn mức tín dụng dài hạn với các ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi thời vụ xảy ra. Trạng thái thanh khoản ròng (NLP) của một ngân hàng được xác định: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Nếu NLP < 0, ngân hàng gặp tình trạng thâm hụt thanh khoản, tức là thiếu hụt tiền mặt để chi trả. Nhà quản trị ngân hàng phải quyết định xem vốn thanh khoản bổ sung sẽ được huy động từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. Nếu NLP > 0, ngân hàng có trạng thái thặng dư thanh khoản, tức là dư thừa tiền mặt không có lãi suất.
Khi đó, ngân hàng quan tâm đến tính sinh lời, nhà quản trị ngân hàng cần phải cân nhắc đầu tư có hiệu quả các khoản thặng dư vốn thanh khoản này cho đến khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Nếu NLP = 0, tổng cung thanh khoản đúng bằng tổng cầu thanh khoản. Đây là tình trạng thanh khoản hoàn hảo và rất hiếm khi xảy ra trên thực tế. Rủi ro thanh khoản a, Khái niệm Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có được đủ vốn khả dụng (cung thanh khoản) với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời, hoặc đáp ứng được nhưng phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp. b, Mức độ rủi ro thanh khoản Để thuận tiện cho việc quản trị và xây dựng các chiến lược phòng tránh, rủi ro thanh khoản được phân chia thành ba mức độ: Rủi ro thanh khoản ở mức thấp: - Ngân hàng có sẵn nguồn tài trợ và có lợi thế cạnh tranh về chi phí khi xảy ra thiếu hụt thanh khoản. - Nguồn tài trợ đa dạng hóa, không bị lệ thuộc hoặc ít bị lệ thuộc vào các nguồn tài trợ lớn được cung cấp bởi một số ít nhà cung cấp vốn. - Khả năng thanh khoản có thể thông qua việc dễ dàng bán tài sản.
- Ngân hàng không bị rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản nghiêm trọng khi có những thay đổi ngược chiều trên thị trường. - Ngân hàng có thể nhận được sự trợ giúp tốt từ ngân hàng mẹ. Khi có các điều kiện trên thì khả năng thanh khoản của ngân hàng là tốt và nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản là thấp. Rủi ro thanh khoản ở mức trung bình: - Ngân hàng có đủ nguồn tài trợ với chi phí hợp lý.
- Nguồn tài trợ nhìn chung được đa dạng hóa, một số nhà cung cấp vốn có thể ảnh hưởng nhất định nhưng không có sự tập trung đáng kể. - Sẵn có những thay thế trên thị trường để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với các điều khoản về chi phí và kỳ hạn có thể chấp nhận được. Trạng thái thanh khoản của ngân hàng không bị ảnh hưởng nhiều trong ngắn hạn. - Khả năng tăng nguồn thanh khoản thông qua việc bán tài sản ở mức trung bình.
- Ngân hàng ít bị tác động về nguồn tài trợ khi có những thay đổi ngược chiều trên thị trường. - Ngân hàng có thể nhận được sự trợ giúp tương đối tốt từ ngân hàng mẹ. Những điều kiện trên khiến cho khả năng đảm bảo thanh khoản của ngân hàng tương đối tốt, khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản ở mức trung bình. Rủi ro thanh khoản ở mức cao: - Cấu trúc tài sản nợ bất hợp lý.
- Nguồn tài trợ có thể tập trung vào một số ít nhà cung cấp vốn có ảnh hưởng, có bằng chứng về ảnh hưởng của các nhà cung cấp vốn lớn. - Ngân hàng thể hiện khả năng yếu kém trong việc bán tài sản. - Trợ giúp từ ngân hàng mẹ là rất ít hoặc không có. - Khả năng thua lỗ tiềm tàng đối với thu nhập và vốn có thể lớn do chi phí tài sản nợ cao hay bán tài sản không theo kế hoạch.
- Rủi ro thanh khoản có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập và vốn trong quá khứ. Những dấu hiệu trên cho thấy ngân hàng không đủ khả năng thanh khoản để đáp ứng nhu cầu nên rất dễ xảy ra rủi ro thanh khoản và chịu tổn thất lớn. Quản trị thanh khoản Quản trị thanh khoản là việc NHTM sử dụng hệ thống các cơ chế quản lý, giải pháp nghiệp vụ và công cụ kỹ thuật thích hợp nhằm duy trì thường xuyên trạng thái cân bằng cung và cầu thanh khoản, xử lý kịp thời những tình huống rủi ro thanh khoản nhưng vẫn đảm bảo khả năng sinh lời cho ngân hàng. Hầu hết các vấn đề về thanh khoản đều phát sinh từ bên ngoài ngân hàng và chủ yếu là từ các nhu cầu hoạt động tài chính của khách hàng.
Trên thực tế, các vấn đề về thanh khoản của khách hàng thường chuyển về phía ngân hàng.