Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 đặt ra mục tiêu đưa đất nước về cơ bản trở thành một quốc gia có cơ sở vật chất kinh tế hiện đại, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8% - 10%, đồng thời thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH). Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhu cầu vốn đầu tư là điều kiện tiên quyết. Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế được tác giả dẫn giải, trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2020, Việt Nam cần khoảng 500 - 550 tỷ USD vốn đầu tư.

Trong cơ cấu các kênh dẫn truyền vốn của nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đối mặt với xu hướng sụt giảm do tác động của những biến động kinh tế - chính trị trên phạm vi thế giới và khu vực. Mặt khác, kênh tín dụng ngân hàng thương mại chủ yếu cung cấp nguồn vốn ngắn hạn, chưa thể đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án phát triển quy mô lớn. Một nghịch lý thực tiễn xuất hiện trong hệ thống tài chính lúc bấy giờ: nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng ứ đọng lên tới hàng nghìn tỷ đồng không thể giải ngân do chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra còn lớn, trong khi các doanh nghiệp lại thiếu vốn trầm trọng để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trước thực trạng đó, việc hình thành Thị trường Chứng khoán (TTCK) nhằm khơi thông các dòng vốn nhàn rỗi trong dân cư, biến các nguồn vốn ngắn hạn, phân tán thành nguồn vốn đầu tư dài hạn trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Ngày 20/07/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) đầu tiên của Việt Nam chính thức đi vào hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh và tổ chức phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Tuy nhiên, sau gần hai năm vận hành, thị trường phải đối mặt với khó khăn nội tại then chốt: tình trạng khan hiếm hàng hóa giao dịch. Vấn đề thiếu hụt chứng khoán niêm yết có chất lượng đã cản trở khả năng hấp thụ và luân chuyển vốn của thị trường.

Khóa luận tốt nghiệp với tiêu đề “Một số giải pháp nhằm tăng cung hàng hoá cho TTCK VN hiện nay” được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hàng hóa và cơ chế tạo lập hàng hóa trên thị trường chứng khoán.
  2. Phân tích thực trạng các loại chứng khoán đã phát hành và tổ chức giao dịch tại thị trường chứng khoán Việt Nam sau gần hai năm đi vào hoạt động.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng chính sách và giải pháp cụ thể nhằm gia tăng nguồn cung hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác lập:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hàng hóa trên thị trường chứng khoán (bao gồm các loại chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, công cụ phái sinh) và các cơ chế, phương thức phát hành tạo nguồn cung hàng hóa.
  • Phạm vi không gian: Thị trường chứng khoán Việt Nam, tập trung vào hoạt động tại TTGDCK TP. Hồ Chí Minh và hệ thống cơ chế quản lý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi thành lập cơ chế thị trường (từ năm 1992 với Ban thị trường vốn, mốc thành lập UBCKNN năm 1996) đến thời điểm thị trường đi vào hoạt động thực tế gần hai năm (2000 - 2002), đặt trong các định hướng chiến lược đến giai đoạn 2010 và 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật quốc tế và trong nước về thị trường tài chính và chứng khoán:

  • Định nghĩa của Neil F. Stapley trong công trình Stock market: A guide for the private Investor: xem TTCK là một thị trường phức tạp, cao cấp mà hàng hóa giao dịch mua bán là những cổ phiếu và cổ phần.
  • Quan điểm của tác giả Trần Xuân Kiệm trong tài liệu Hỏi đáp về TTCK và công ty cổ phần: nhìn nhận TTCK là nơi giao dịch mà hàng ngàn người mua vào và bán ra các cổ phần mỗi ngày thông qua các đại lý môi giới.
  • Khái niệm của học giả Hàn Quốc Young Jackim: định vị TTCK là thị trường trừu tượng, nơi các chứng khoán được phát hành và giao dịch giữa người mua và người bán.
  • Định nghĩa từ từ điển Longman dictionary of Business English (1985): xác lập TTCK là thị trường có tổ chức, nơi các chứng khoán được mua và bán tuân thủ các nguyên tắc đã ấn định.
  • Khung khái niệm của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) về chứng khoán, mở rộng sang các công cụ phái sinh, quyền hưởng lãi, quyền chọn và hợp đồng đầu tư.

Khung khổ pháp lý và văn bản quy phạm được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30/09/1992.
  • Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
  • Nghị định số 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  • Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg (trong văn bản trích dẫn số hiệu 127/1998/QĐ-CP) ngày 11/07/1998 về việc thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán.
  • Quyết định số 128/1998/QĐ-TTg (trong văn bản trích dẫn số hiệu 128/1998/QĐ-CP) ngày 01/08/1998 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán.
  • Thông tư số 01/2001/TT-UBCK ngày 13/10/1998 (nguyên văn trích dẫn trong văn bản) hướng dẫn việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được áp dụng trong khóa luận:

  • Phương pháp lịch sử kết hợp logic: Khảo cứu tiến trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thế giới qua các mốc lịch sử từ thế kỷ XV tại châu Âu, qua Đại khủng hoảng 1929 - 1933 đến khủng hoảng năm 1987, từ đó rút ra quy luật vận động khách quan cho thị trường Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận: Phân loại cấu trúc thị trường (thị trường sơ cấp và thứ cấp; thị trường tập trung qua Sở giao dịch và thị trường phi tập trung OTC); bóc tách các thuộc tính kinh tế của hàng hóa chứng khoán.
  • Phương pháp so sánh thể chế quốc tế: So sánh ba mô hình sở hữu thị trường chứng khoán trên thế giới để làm rõ tính đặc thù của mô hình sở hữu nhà nước tại Việt Nam.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, tài liệu thống kê của UBCKNN, các ước tính chiến lược của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thông tin tiếp nhận trong quá trình thực tập tại Vụ Quản lý và Phát hành Chứng khoán thuộc UBCKNN.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề cơ bản về hàng hoá và sự tạo hàng hoá cho TTCK

Chương I tập trung hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về lịch sử, khái niệm, phân loại và cơ chế phát hành chứng khoán trên thế giới:

  1. Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK thế giới:

    • Sự hình thành thị trường bắt nguồn từ thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản tại các trung tâm buôn bán phương Tây vào giữa thế kỷ XV. Phiên chợ giao dịch đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại lữ quán của nhà môi giới Van Ber Buerzo ở thị trấn Bruges (Vương quốc Bỉ). Biển hiệu của lữ quán mang hình ba túi da với chữ tiếng Pháp “Bourse” (Mậu dịch thị trường), tượng trưng cho ba nội dung giao dịch: mậu dịch trường hàng hóa, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường giá khoán động sản.
    • Đến năm 1547, khi eo biển Evin dẫn vào Bruges bị cát bồi lấp, hoạt động chuyển dời về thị trấn Antwerpen. Năm 1531, Antwerpen là nơi đầu tiên phát triển mạnh các nghiệp vụ chứng khoán nợ chính phủ của Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp.
    • Quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng hóa: từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX, hàng hóa chủ yếu là công trái chính phủ; cuối thế kỷ XIX, phong trào cổ phần hóa doanh nghiệp tại các nước công nghiệp đã đưa cổ phiếu và trái phiếu công ty lên vị trí chiếm ưu thế.
    • Giai đoạn phát triển mạnh mẽ diễn ra từ 1875 đến 1913. Tiếp đó, sự sụp đổ của Sở Giao dịch Chứng khoán New York mùa thu năm 1929 do đầu cơ bán khống đã gây ra cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933, buộc chính quyền các nước phải ban hành luật để kiểm soát thị trường. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường phục hồi và tiếp tục trải qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1987 trước khi ổn định trở lại sau hai năm.
  2. Cơ cấu và chức năng của thị trường:

    • Thị trường tài chính phân chia thành thị trường tiền tệ (ngắn hạn) và thị trường vốn (dài hạn). TTCK là bộ phận cốt lõi của thị trường vốn.
    • Thị trường sơ cấp (primary market) thực hiện chức năng chứng khoán hóa nguồn vốn, chuyển dịch tiền nhàn rỗi sang vốn đầu tư dài hạn; đây là nơi duy nhất tạo vốn mới cho nhà phát hành, với giá bán do tổ chức phát hành ấn định. Thị trường thứ cấp (secondary market) bảo đảm tính thanh khoản, điều hòa vốn giữa các ngành và định hình thị giá chứng khoán theo quan hệ cung - cầu cạnh tranh tự do.
  3. Bản chất và thuộc tính của hàng hóa chứng khoán:

    • Chứng khoán mang hai thuộc tính của hàng hóa: giá trị (thể hiện qua quyền sở hữu tài sản dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ) và giá trị sử dụng (quyền được hưởng lợi tức và khả năng sinh lời trong tương lai).
    • Khóa luận phân loại chi tiết các loại chứng khoán:
      • Theo tiêu chuẩn pháp lý: Chứng khoán ghi danh (Nominal/Registered securities) và Chứng khoán vô danh (Bearer securities).
      • Theo tính chất thu lợi tài chính: Chứng khoán có lợi tức ổn định (Fixed income securities - trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi) và Chứng khoán có lợi tức không ổn định (Variable income securities - cổ phiếu thường).
      • Theo mục đích huy động vốn: Cổ phiếu thường (Common Stock), Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock gồm 6 loại: tích lũy, không tích lũy, dự phần, hoàn vốn, thu hồi, đảm bảo), Trái phiếu (Bonds gồm trái phiếu chính phủ, công ty, công trình), và các Công cụ phái sinh (Derivative Documents).
    • Tác giả xác lập các công thức toán tài chính đối với trái phiếu:
      • Lãi suất hiện hành: $$\text{Lãi suất hiện hành} = \frac{\text{Số tiền lãi năm}}{\text{Chi phí đầu tư}} \times 100$$
      • Lãi suất đáo hạn: $$\text{Lãi suất đáo hạn} = \frac{(P \times M) + \frac{P - F}{N}}{\frac{P + F}{2}}$$ (Trong đó: $P$ là mệnh giá; $M$ là lãi suất; $F$ là giá mua; $N$ là số năm còn lại).
    • Các công cụ phái sinh được phân tích cụ thể: Hợp đồng quyền chọn (Option contract, gồm Call option và Put option); Chứng quyền (Right Certificate, thời hạn ngắn từ 1 đến 6 tuần, chỉ phát hành cho cổ đông hiện hữu); Bảo chứng quyền (Warrants, kỳ hạn dài); Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract); Hợp đồng tương lai (Futures Contract); Chứng chỉ quỹ đầu tư (mô hình quỹ mở và quỹ đóng).
  4. Các hình thức tạo hàng và phương thức phân phối:

    • Phân biệt phát hành riêng lẻ (chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, đối tượng hạn chế, không giao dịch tại Sở) và phát hành ra công chúng (gồm IPO và chào bán sơ cấp bổ sung, chịu sự giám sát của UBCKNN).
    • Bốn phương pháp phân phối chứng khoán:
      • Chào bán/ghi mua: Tiến hành quảng cáo công khai, nhà đầu tư gửi phiếu đăng ký và séc thanh toán; nhược điểm là độ trễ thời gian khiến nhà đầu tư không chủ động được khối lượng nắm giữ.
      • Bán qua trung gian: Thuê công ty môi giới phân phối, giúp tiết kiệm chi phí quảng cáo và nắm bắt kịp thời danh mục khách hàng.
      • Bán thẳng: Tiếp xúc trực tiếp với các nhà đầu tư tiềm năng đã được lựa chọn.
      • Đưa ra niêm yết: Đưa các chứng khoán đã phát hành lên sàn giao dịch mà không làm phát sinh vốn mới cho doanh nghiệp nếu không chào bán thêm.
Tiêu chí Phát hành riêng lẻ Phát hành ra công chúng
Phạm vi đối tượng Số lượng hạn chế (nhà đầu tư tổ chức) Rộng rãi cho công chúng (có tỷ lệ cho nhà đầu tư nhỏ)
Khung pháp lý điều chỉnh Luật Doanh nghiệp Pháp luật về chứng khoán và quản lý của UBCKNN
Khối lượng phát hành Có giới hạn theo điều kiện cụ thể Phải đạt mức tối thiểu theo quy định
Điều kiện niêm yết Không phải đối tượng giao dịch tại Sở Đủ điều kiện niêm yết giao dịch tập trung nếu đáp ứng quy chế
Chế độ công bố thông tin Theo thỏa thuận nội bộ Bắt buộc báo cáo và công bố thông tin công khai định kỳ

Chương II: Thực trạng hàng hoá giao dịch trên TTCK VN

Chương II phản ánh tình hình xây dựng thể chế và thực tế vận hành hàng hóa trên thị trường Việt Nam tính đến giai đoạn 2002:

  1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chứng khoán:

    • Quá trình chuẩn bị thể chế bắt đầu từ năm 1992 với việc thành lập Ban Thị trường vốn trực thuộc Ngân hàng Nhà nước.
    • Ngày 28/11/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK. Văn bản quy định rõ 11 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của UBCKNN: soạn thảo văn bản pháp luật; chủ trì phối hợp xây dựng thị trường; cấp, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép của các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư; thành lập và quản lý các dịch vụ phụ trợ; trình Thủ tướng thành lập hoặc giải thể Sở GDCK; kiểm tra, giám sát hoạt động của Sở và các tổ chức liên quan; ban hành quy chế niêm yết, giao dịch; phối hợp Bộ Tài chính quy định phí và lệ phí; đào tạo cán bộ; hợp tác quốc tế; và quản lý bộ máy công chức.
  2. Vai trò kinh tế thực tiễn và nghịch lý vốn tại Việt Nam:

    • Theo số liệu của Bộ Tài chính, giai đoạn 2000 - 2010 đòi hỏi nguồn vốn tài trợ 10 - 12 tỷ USD để thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước ASEAN, trong đó mục tiêu đặt ra cho thị trường tài chính là tài trợ tối thiểu 50% nhu cầu này.
    • Trong bối cảnh nguồn vốn FDI giảm tốc, TTCK giữ vai trò quan trọng nhằm thu hút vốn gián tiếp nước ngoài. Đồng thời, thị trường tạo sức ép cạnh tranh buộc hệ thống ngân hàng thương mại phải hạ thấp chi phí và thu hẹp chênh lệch lãi suất.
    • TTCK giải quyết bài toán biến các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ, ngắn hạn của các nhà đầu tư cá nhân thành vốn trung và dài hạn, giải tỏa nguồn vốn hàng nghìn tỷ đồng đang bị ứ đọng tại các NHTM. Ngoài ra, thị trường hỗ trợ Nhà nước phát hành trái phiếu chính phủ để bù đắp ngân sách mà không phải phát hành tiền qua ngân hàng, hạn chế áp lực lạm phát.
  3. Mô hình tổ chức và đặc trưng cơ bản của TTCK Việt Nam:

    • Tác giả so sánh ba nhóm mô hình sở hữu thị trường trên thế giới:
      • Nhóm 1: Sở hữu tập thể của những người môi giới chứng khoán, có quyền độc quyền giao dịch (Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ, Hy Lạp, một số nước Nam Mỹ).
      • Nhóm 2: Sở hữu kết hợp giữa các Ngân hàng và các công ty chứng khoán độc lập (Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan).
      • Nhóm 3: Sở hữu tư nhân tổ chức theo hình thức công ty cổ phần, người sở hữu không độc quyền giao dịch mà quyền giao dịch thuộc về các công ty thành viên (London, Nhật Bản, Bắc Mỹ).
    • Khóa luận chỉ rõ: TTCK Việt Nam không thuộc ba nhóm mô hình trên. Theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, thị trường giao dịch tập trung của Việt Nam được tổ chức theo lộ trình từng bước từ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán lên Sở Giao dịch Chứng khoán. TTGDCK và SGDCK đều là các định chế tài chính thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước cấp kinh phí thành lập, trực tiếp quản lý và vận hành.
    • Thực trạng hàng hóa sau gần hai năm hoạt động: Thị trường giao dịch trong tình trạng quy mô rất nhỏ bé, chủng loại hàng hóa đơn điệu, nguồn cung cổ phiếu niêm yết chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của công chúng đầu tư.

Chương III: Chính sách và giải pháp tăng cường hàng hoá cho TTCK Việt Nam hiện nay

Theo đề cương và mục tiêu đề tài được tác giả xác lập tại Lời mở đầu, Chương III tập trung xây dựng các nhóm chính sách và giải pháp nhằm tăng cung hàng hóa cho thị trường. Căn cứ vào các nút thắt được chỉ ra ở các chương trước, phương hướng giải pháp của đề tài định hình quanh các trụ cột:

  • Đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước gắn liền với việc đăng ký niêm yết trên thị trường tập trung.
  • Chuẩn hóa điều kiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc thẩm định cấp phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng theo Thông tư 01/2001/TT-UBCK.
  • Đa dạng hóa các công cụ nợ, đặc biệt là trái phiếu chính phủ và trái phiếu công trình nhằm tạo hàng hóa có tính an toàn cao để định hình đường cong lãi suất chuẩn.
  • Hoàn thiện khung khổ pháp trị nhằm tăng cường tính minh bạch, chế độ kế toán kiểm toán và công bố thông tin bắt buộc đối với các công ty đại chúng.

(Lưu ý học thuật: Phần văn bản nguồn được cung cấp chỉ bao gồm nội dung chi tiết từ Lời mở đầu đến trang 50 của Chương II; các chi tiết triển khai cụ thể của Chương III được ghi nhận theo định hướng kết cấu đã trình bày trong văn bản).


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và trích xuất các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  1. Lượng hóa nhu cầu vốn và vai trò của thị trường tài chính: Xác lập các căn cứ định lượng vĩ mô gồm nhu cầu vốn 500 - 550 tỷ USD cho giai đoạn 2001 - 2020 và 10 - 12 tỷ USD cho giai đoạn 2000 - 2010; đặt ra chỉ tiêu thị trường tài chính phải đáp ứng ít nhất 50% nhu cầu vốn phát triển.
  2. Khái quát hóa mô hình sở hữu đặc thù: Phân biệt rõ sự khác nhau giữa mô hình thị trường chứng khoán Việt Nam (định chế nhà nước quản lý chuyển tiếp từ TTGDCK lên SGDCK theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP) với 3 nhóm mô hình sở hữu phổ biến trên thế giới (mô hình nghiệp đoàn môi giới, mô hình ngân hàng liên kết, mô hình công ty cổ phần tư nhân).
  3. Chuẩn hóa hệ thống công cụ và phương pháp phân phối: Thiết lập đầy đủ các thuộc tính của chứng khoán nợ và vốn, công thức tính toán lãi suất hiện hành và đáo hạn, cùng ưu nhược điểm của 4 phương pháp phân phối chứng khoán ra công chúng (chào bán/ghi mua, bán qua trung gian, bán thẳng, niêm yết).
  4. Đóng góp của đề tài: Tác giả tự xác định khóa luận mang lại cái nhìn toàn diện, khách quan về thực trạng khan hiếm hàng hóa trên TTCK Việt Nam sau gần 2 năm vận hành; đồng thời bổ sung các đề xuất giải pháp nhằm khai thông ách tắc cung hàng, thúc đẩy quá trình chuyển đổi vốn ứ đọng từ hệ thống ngân hàng sang đầu tư dài hạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả thẳng thắn thừa nhận trong lời mở đầu rằng do điều kiện khảo sát thực tế và thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, bài khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong việc bao quát toàn bộ các khía cạnh thị trường. Ngoài ra, giới hạn dữ liệu nghiên cứu chỉ dừng lại ở mốc gần hai năm đầu sau khi TTGDCK TP. Hồ Chí Minh vận hành (khoảng năm 2002), chưa thể phản ánh các giai đoạn phát triển khi xuất hiện sàn Hà Nội hay Luật Chứng khoán sau này.
  • Hướng mở nghiên cứu: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hóa có nguyện vọng niêm yết; nghiên cứu khả năng đưa các công cụ tài chính phái sinh (hợp đồng quyền chọn, chứng quyền) và chứng chỉ quỹ đầu tư vào vận hành thực tế tại Việt Nam khi điều kiện pháp lý và quy mô thị trường cho phép.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này có giá trị tham khảo học thuật đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Tài chính - Ngân hàng và Thị trường Chứng khoán: Nghiên cứu về giai đoạn sơ khai của TTCK Việt Nam; tìm hiểu phương pháp phân loại chứng khoán kinh điển và các công thức toán tài chính đối với công cụ nợ.
  • Người nghiên cứu lịch sử kinh tế và thể chế: Khảo cứu tiến trình lập pháp và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chứng khoán từ Ban Thị trường vốn (1992), thành lập UBCKNN theo Nghị định 75/CP (1996) đến việc khai trương TTGDCK TP. Hồ Chí Minh năm 2000.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Phần tổng kết lịch sử ra đời thuật ngữ "Bourse" từ năm 1453 tại Bruges; phân tích so sánh 3 mô hình sở hữu thị trường trên thế giới đối chiếu với mô hình sở hữu nhà nước tại Việt Nam; và phân tích ưu - nhược điểm của các phương pháp phân phối chứng khoán sơ cấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ “Bourse” và phiên chợ giao dịch chứng khoán đầu tiên trên thế giới xuất hiện trong hoàn cảnh nào?

Theo trình bày của tác giả, phiên chợ đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại lữ quán của nhà buôn - nhà môi giới Van Ber Buerzo ở thị trấn Bruges (Vương quốc Bỉ). Trước lữ quán có bảng hiệu hình ba túi da với chữ tiếng Pháp “Bourse” (Mậu dịch thị trường), tượng trưng cho ba nội dung giao dịch: mậu dịch trường hàng hóa, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường giá khoán động sản.

2. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Việt Nam được tác giả trích dẫn theo các số liệu nào?

Văn bản nêu rõ hai mốc số liệu: theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, giai đoạn 2001 - 2020 Việt Nam cần khoảng 500 - 550 tỷ USD vốn đầu tư để duy trì tăng trưởng GDP 8% - 10%/năm; theo số liệu của Bộ Tài chính, giai đoạn 2000 - 2010 đòi hỏi 10 - 12 tỷ USD để tài trợ cho chiến lược CNH - HĐH, trong đó thị trường tài chính đặt mục tiêu tài trợ tối thiểu 50%.

3. Mô hình sở hữu của Thị trường Chứng khoán Việt Nam có điểm gì khác biệt so với các mô hình phổ biến trên thế giới?

Trên thế giới tồn tại ba nhóm mô hình: sở hữu của nhà môi giới (Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ), sở hữu của ngân hàng và công ty chứng khoán (Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan), và sở hữu tư nhân theo luật công ty cổ phần (Anh, Mỹ, Nhật Bản). Ngược lại, TTCK Việt Nam được tổ chức theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP theo lộ trình chuyển tiếp từ TTGDCK lên SGDCK, là các tổ chức tài chính hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước cấp kinh phí và trực tiếp điều hành, quản lý.

4. Phương pháp phân phối chứng khoán bằng hình thức “chào bán/ghi mua” có nhược điểm gì?

Hạn chế lớn nhất của phương pháp chào bán/ghi mua là tồn tại một khoảng thời gian trễ kể từ khi nhà đầu tư gửi phiếu đăng ký mua đến khi nhận được thông báo phân phối. Do đó, người mua không thể biết chính xác số lượng chứng khoán mình được sở hữu nếu lượng đặt mua vượt quá lượng chào bán, gây khó khăn cho việc giao dịch bán lại trong giai đoạn này.

5. Khóa luận đưa ra công thức tính toán lãi suất đáo hạn của trái phiếu như thế nào?

Công thức xác định lãi suất đáo hạn được thiết lập cụ thể: $$\text{Lãi suất đáo hạn} = \frac{(P \times M) + \frac{P - F}{N}}{\frac{P + F}{2}}$$ Trong đó các tham số bao gồm: $P$ là mệnh giá trái phiếu, $M$ là lãi suất cam kết, $F$ là giá mua thực tế, và $N$ là số năm còn lại cho đến ngày đáo hạn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm tăng cung hàng hoá cho TTCK VN hiện nay” tại Học viện Ngân hàng là một công trình nghiên cứu phản ánh chân thực giai đoạn khởi đầu của thị trường chứng khoán Việt Nam (2000 - 2002). Tác giả đã hệ thống hóa chặt chẽ cơ sở lý luận về các công cụ chứng khoán, phân tích các thuộc tính kinh tế của hàng hóa tài chính và phương thức phát hành sơ cấp. Công trình chỉ rõ nghịch lý giữa hiện tượng ứ đọng vốn hàng nghìn tỷ đồng tại các ngân hàng thương mại với tình trạng khan hiếm hàng hóa niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung, từ đó khẳng định vai trò sống còn của việc tăng nguồn cung chứng khoán đối với sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia.