Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA STRESS Ở HỌC VIÊN CẤP PHÂN ĐỘI TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI 1. Lịch sử nghiên cứu stress và stress trong hoạt động quân sự 1. Những nghiên cứu về stress ở nước ngoài Từ xa xưa, người Trung Quốc mặc dù chưa đưa ra khái niệm stress, chưa hiểu bản chất của stress và cơ chế của nó nhưng thông qua hoạt động thực tiễn, họ đã nhận thấy được những tác hại của nó đối với sức khoẻ và đề xuất cách phòng chống stress có hại cho con người. Thời Xuân thu Chiến quốc (403- 221 TCN), các danh y Trung Hoa trong sách “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” đã tổng kết các dữ liệu khoa học, họ nêu rõ bệnh tật ở con người có các nguyên nhân, đó là: Nguyên nhân bên ngoài: “lục khí - vũ vận”, đó là gió, rét, nắng, ẩm thấp, khô hanh và nóng.
Nguyên nhân bên trong: đó là rối loạn bảy loại cảm xúc, đó là vui, giận, sầu bi, khoái lạc, yêu, ghét, đam mê. Nguyên nhân do những biến cố trong đời sống như: thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, ăn nhầm phải chất độc, ốm yếu. 9 Như vậy, rối loạn cảm xúc là một trong ba nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh tật ở con người, có thể coi đây là phát hiện to lớn về stress mà người xưa đã nhận thấy. Từ những nguyên nhân trên, người xưa đã đề ra hai nguyên lý cơ bản trong việc phòng chống bệnh tật ở con người đó là: Thiên - Nhân tương ứng: Trời đất (vũ trụ lớn) và con người (vũ trụ nhỏ) luôn có tác động qua lại, vũ trụ nhỏ do vũ trụ lớn sinh ra, vũ trụ nhỏ phải tuân theo quy luật của vũ trụ lớn, sống hài hòa với thiên nhiên, ngay cả trong quá trình sử dụng và cải tạo thiên nhiên.
Điều này rất phù hợp với quan điểm dưỡng sinh ngày nay, đó là con người cần phải sống hài hoà với thiên nhiên, tuân theo quy luật của tự nhiên. Điều hoà theo thuật số: Đây là sự vận dụng, tuân thủ các quy luật của thiên nhiên tuân theo thuyết âm dương ngũ hành [36, tr. Trên cơ sở hai nguyên lý này, đạo dưỡng sinh có bốn biện pháp là sinh hoạt, làm việc, ăn uống điều độ; thích ứng với thời tiết; rèn luyện thân thể; và tu dưỡng tinh thần. Thế kỷ XIX, George Beard- bác sĩ thần kinh người Mỹ cho rằng: Cuộc sống với những yêu cầu đầy áp lực là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự quá tải của hệ thần kinh- “suy nhược thần kinh”.
Tình trạng này được biểu hiện bởi những triệu chứng như: lo âu không lành mạnh, mệt mỏi không rõ lý do và những nỗi lo sợ vô lý mà nguyên nhân là do hệ thần kinh không có khả năng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hàng ngày. Beard cũng cho rằng suy nhược thần kinh là hậu quả của “một loại tổ chức xã hội nào đó” và ông làm rõ ảnh hưởng của xã hội trong việc tạo ra những căn bệnh tâm thần, chính ở khía cạnh này, nghiên cứu của ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay [dẫn theo 14, tr. Năm 1859, nhà sinh lý học Pháp, Claude Bernard đã đưa ra khái niệm “môi trường bên trong cơ thể”, coi cơ thể con người phức tạp như một “tập hợp những 10 tồn tại đơn giản, như là những nhân tố giải phẫu”. Khái niệm này mô tả nguyên lý: chính sự ổn định và hoà hợp của môi trường bên trong được quyết định bởi môi trường bên ngoài, là điều kiện để có cuộc sống bình thường, tức là những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng những thay đổi đó.
Tuy nhiên, nếu cơ thể bị xáo trộn quá mức bình thường, con người sẽ đau ốm hoặc có thể chết. Chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết bằng cách sắp đặt và làm hài hoà hoạt động của cơ thể. Ông nhấn mạnh, chỉ có động vật cao cấp nhất trong sự phát triển chủng loại mới có hệ thần kinh làm nhiệm vụ này. Ông chính là người đã khai phá lịch sử nghiên cứu về khả năng tự điều chỉnh để thích nghi của cơ thể con người [14, tr.
Đầu thế kỷ XX, nhà sinh lý học người Mỹ W. Cannon đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu thực nghiệm tương đối trong hệ thống về ảnh hưởng của stress qua các chi tiết về sự thay đổi của cơ thể khi bị đớn đau, đói và một số cảm xúc căn bản khác. Đặc biệt, trong tác phẩm nổi tiếng “sự khôn ngoan của cơ thể” , ông đã đưa ra khái niệm “tự điều chỉnh, cân bằng nội môi” và khái niệm “chống trả hoặc bỏ chạy”. Ông nhận thấy, có một trình tự hoạt tính được phát khởi trong các dây thần kinh và các tuyến nội tiết nhằm chuẩn bị để có thể chiến đấu chống lại hoặc bỏ chạy để bảo toàn tính mạng trước những đe doạ của ngoại cảnh.
Ông còn nhận thấy cân bằng nội môi đó chính là trạng thái phức hợp cân bằng sinh lý khi thay đổi nồng độ các chất trong máu như: nước, natri, đường, đạm, mỡ.trên cơ sở sự điều chỉnh của hệ thần kinh thực vật và lõi thượng thận [dẫn theo 9, tr. Pavlov cũng nêu ra đặc trưng của khái niệm “tự điều chỉnh, cân bằng nội môi”.Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh, và là một hệ thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống ấy tự duy trì bản thân, tự hiệu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm chí tự hoàn thiện bản thân [9, tr. 11 Kế thừa kết quả nghiên cứu của Claude Bernard về sự ổn định thường xuyên của nội môi ở động vật, điều kiện quan trọng nhất để tồn tại và phát triển; khả năng tự điều chỉnh của W. Cannon, Hans Selye đã nhận thấy bên cạnh những phản ứng đặc trưng do các yếu tố bất lợi khác nhau gây ra, cơ thể luôn luôn có những phản ứng chung nhất.
Năm 1936, ông gọi phản ứng không đặc hiệu của cơ thể bằng thuật ngữ stress. Thuật ngữ này lúc đầu thiên về bệnh học, nên dùng là “ hội chứng”, sau đó nó được hiểu là “Hội chứng thích nghi chung”., được hiểu là phản ứng nhằm giúp cho cơ thể thích nghi với môi trường luôn thay đổi. Quá trình này diễn ra qua ba giai đoạn kế tiếp nhau: báo động, cầm cự và kiệt quệ. Biểu hiện của quá trình này là sự tăng cường rồi suy kiệt của hệ thống thần kinh nội tiết: dưới đồi, tuyến yên, vỏ thượng thận.
Phản ứng này kéo dài hơn do tác động của hormon vỏ thượng thận [dẫn theo 21, tr. Parin đã nhận xét: “khái niệm stress của H. Selye đã thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh. Quan điểm của ông lúc đầu gặp không ít sự phản đối, bây giờ đã nhận được sự phổ quát rộng khắp.
Nói một cách tổng quát, học thuyết của nhà bác học Canada nổi tiếng này có thể được coi là hệ thống quan điểm cơ bản, đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học y học hiện đại” [21, tr. Học thuyết của H. Selye đã thu hút nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau vào nghiên cứu stress. Các biểu hiện tâm lý của “hội chứng” mà ông mô tả được đặt tên là “stress cảm xúc”.
Từ đó dẫn tới hai hướng nghiên cứu cơ bản là: nghiên cứu stress dưới góc độ y sinh học và nghiên cứu stress dưới góc độ tâm lý học. Trước đây, phần lớn các công trình nghiên cứu về stress là thuộc lĩnh vực y sinh học. Những năm gần đây ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu stress dưới góc độ tâm lý học. Meyer, nhà tâm lý học người Mỹ đã nghiên cứu thực tiễn và chỉ ra rằng, những biến cố của đời sống như: chuyển nhà, thành công, thất bại, sinh tử.trong gia đình là những yếu tố gây stress.
Ông là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về sự liên hệ giữa các biến cố đời sống và stress [14, tr. Nhà nghiên cứu Caroline Bedell Thomas đã công bố kết quả nghiên cứu từ năm 1946 đến năm 1977 cho thấy: những người thường kìm nén cảm xúc, che dấu các tình cảm mạnh, cả tích cực lẫn tiêu cực trước những tình huống khó thì dễ bị ung thư. Những nghiên cứu khoa học khác của Rogentine, Fos, Rosenblant và cộng sự (1978), Locke(1984) và Le Shan(1966) đều có chung một nhận định: stress không gây ra ung thư nhưng ảnh hưởng đến diễn biến của căn bệnh, bằng cách làm cạn kiệt sức mạnh hệ thống miễn dịch của cơ thể [26, tr. Năm 1997, Paker chú ý tới lĩnh vực mới đó là nghiên cứu mối liên hệ giữa não bộ, hệ thống miễn dịch của cơ thể và yếu tố tâm lý đã phát hiện thấy stress gây ra nhiều tác động khác nhau.
Trước hết là những biến đổi các tiết tố trong cơ thể, ảnh hưởng của tuyến thượng thận trong máu. Trong một số trường hợp, những ảnh hưởng này là có ích vì nó tác động lên hệ thần kinh giao cảm giúp cho con người có thể chống đỡ tốt hơn với những tình huống bất ngờ, nguy hiểm trong cuộc sống [18]. Những nghiên cứu stress ở trong nước Thế kỷ XIV, trong tác phẩm “Nam dược thần hiệu”, danh y Tuệ Tĩnh đã khẳng định nguyên nhân cốt lõi của bệnh tật là thất tình và đưa ra phương pháp trị bệnh là: ám thị bằng cảm xúc đối lập gây ra bệnh. Đồng thời ông cũng đưa ra phương pháp dưỡng sinh nổi tiếng qua 14 chữ: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.
Như vậy, mặc dù danh y Tuệ Tĩnh chưa đưa ra khái niệm stress nhưng ông đã quan tâm nghiên cứu và khẳng định yếu tố cảm xúc là một trong 13 những nguyên nhân gây bệnh và để chữa bệnh thì yếu tố “thanh tâm”, tức giữ cho tinh thần thanh thản, trong sáng là một biện pháp quan trọng. Thế kỷ XVIII, danh y Hải Thượng Lãn Ông cũng nhận định tình trạng bệnh lý liên quan tới yếu tố tâm lý “thất tình” và đề ra những kinh nghiệm phòng bệnh qua việc: ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi.một cách chừng mực, khoa học [dẫn theo 20, tr. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu đã quan tâm đến stress nhưng chủ yếu là các nhà khoa học thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học. Người đầu tiên nghiên cứu stress dưới góc độ sinh lý và y học là giáo sư Tô Như Khuê.
Những nghiên cứu của ông về stress và cách chống đỡ stress đã được công bố trong đề tài cấp nhà nước “Tìm hiểu tác dụng dưỡng sinh của võ thuật” [24].