MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Trong bối cành biến đổi khí hậu ngày càng tăng, hệ thống đập thũy điện vùng thượng lưu sông Mekong đang dan hoàn thành sẽ ảnh hường trực tiếp đen lượng nước canh tác và lượng phù sa bồi đắp vào mùa lũ cùa Đong bang sông Cứu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Những tác động lớn như ngoại biên (biển đoi khí hậu, xây dựng bậc thang thủy điện thượng lưu) và nội biên (xây dựng đê bao cao) đã làm thay đoi dòng chảy lũ và tính chất lũ thượng nguồn đen vùng hạ nguồn, làm giâm đáng ke lượng bùn cát tốt cho đồng ruộng và lợi ích tự nhiên mà lũ mang lại cho sinh kế nông dân. Bên cạnh đó, việc phát triền lúa vụ ba quá nhiều, thêm vụ, tăng nhân công lao động nhưng thu nhập không tăng, thậm chí giảm.
Đặc biệt sinh kế người nghèo, những người dân sống nhờ nguồn lợi từ lũ bị đe dọa nghiêm trọng. Sinh ke nông dân không ben vững và ngày càng đi xuống ve mọi mặt kinh tế, xã hội, môi trường. Nghiên cứu này dựa trên việc ứng dụng khung sinh ke ben vững cùa Cơ quan Phát triển Quốc te Vương quốc Anh (Department for International Development - DFID) đe đánh giá các yếu tố ành hưởng đến tính bền vững trong sinh kế nông nghiệp vùng lũ tỉnh An Giang, cụ thể tại hai xã Phú Hiệp và xã Phú Long thuộc huyện Phú Tân. Các thông tin định tính và định lượng được thu thập qua việc khảo sát nông hộ với hình thức canh tác đặc trưng cùa địa phương gom: canh tác lúa 3 năm 8 vụ, canh tác nep 2 năm 5 vụ.
Có 60 nông hộ tham gia cung cấp thông tin thông qua bàng câu hỏi cấu trúc, hơn 40 hộ tham gia đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Ket quả tính toán Chi so von sinh ke (Livelihood capitals Index - LCI) cho thấy vốn tự nhiên và vốn vật chất ít tác động đen sinh ke nông hộ hơn; xã Phú Long ít bị tác động bởi 5 yểu tố vốn hơn so với xã Phú Hiệp. Sinh ke cùa nông hộ hiện tại chù yeu chịu tác động bời việc thiểu nhân lực và biển động giá nông sân. Tỷ lệ đồng thuận chuyển đổi sang các mô hình canh tác hướng den ben vững chưa cao, tuy nhiên nếu có chính sách hồ trợ hợp lý thì nông dân sần sàng phoi họp.
Từ kết quà đánh giá chi tiết, các giài pháp kỳ thuật và quàn lý được đe xuất đe giảm thiểu tác động đen tính bền vững trong sinh ke nông nghiệp cho khu vực nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này hướng đen đối tượng là nông hộ trong lúa/nep vùng lũ tinh An Giang (đây là loại hình canh tác chính cùa tỉnh An Giang nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng), về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào địa bài 2 xã: Phú Hiệp và Phú Long thuộc huyện Phú Tân, tinh An Giang. Đây là các xã nam cạnh hai con sông lớn là Sông Tien và Sông Hậu (xã Phú Hiệp) và cạnh tuyến kênh cấp 1 (xã Phú Long). Ngoài ra, hai xã này nằm trong vùng đê bao kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao, có thể chù động kiểm soát lũ phục vụ cho canh tác nông 1 nghiệp, do đó khu vực nghiên cứu có điều kiện thuận lợi để chuyển đổi sinh kể theo hướng phát triển bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu chính của đề tài nham phân tích nhận thức cùa nông dân ve khả năng, động lực thay đổi định hướng canh tác phù họp trước những biến đổi của dòng chày lũ. Mục tiêu nghiên cứu được cụ the hóa bời các hoạt động chính sau đây: • Xây dựng cái nhìn tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đen mục tiêu của đề tài • Phân tích đánh giá nhận thức cũa nông dân ve hiện trạng sinh ke • Phân tích những khó và trở ngại trong việc hướng đến phát triển sinh kế bền vừng cho nông dân vùng nghiên cứu • Đe xuất các giài phát xây dựng khung sinh ke ben vững mới cho sinh kế nông dân trong vùng ngập lũ. Ý nghĩa đề tài Ket quâ và sản phàm cũa đe tài là cơ sở thực hiện các nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất tình An Giang, đặc biệt trong việc quàn lý sinh ke nông thôn vùng ảnh hưởng do ngập lụt. Khi khung sinh ke ben vững được xây dựng long ghép với các giải pháp mới, thì sẽ giúp phát triển ben vùng sinh ke nông nghiệp vùng lũ, giúp nông dân và những nhà quàn lý xây dựng những mô hình thí điểm thực te.
Nó không những giúp hiểu rõ nhận thức của người nông dân, mà còn mang lại những định hướng phát triển lâu dài cho toàn vùng ngập lũ, trong bối cành phát triển hài hòa toàn vùng dong bằng rộng lớn. Ket quà cùa nghiên cứu mang lại những giá trị kinh tế, nâng cao tinh than cho người nông dân, và giúp những nhà quản lý đưa ra những quyết định chính xác hơn ở thời diem hiện tại và thích ứng với những thay đoi do tác động cùa các yeu tố bên ngoài và nội vùng gây ra. Nghiên cứu này đặc biệt can thiết cho vùng bị ngập lũ ở những nước có nen kinh te đang phát triển như Việt Nam, và có the ứng dụng nghiên cứu cho những vùng nghiên cứu tương tự ở các vùng dong bang phù sa trên the giới. TÓNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu 1.1 Tổng quan về sinh kế bền vững Khái niệm sinh ke ben vững về cơ bản được dựa trên nền tàng cùa khái niệm về sinh ke và sự phát triển bền vững, về sinh kể, các khái niệm thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu đều dựa trên ý tường ve sinh ke cùa Chambers và Conway (1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giàn nhất là phương tiện để kiếm sống: “sinh kế bao gồm khá năng, nguồn lực và các hoạt động can thiết làm phương tiện song cùa con người”.
Còn vê khái niệm ben vững, một trong những khái niệm phổ biến là “phát triển đáp ứng được nhu cầu cùa hiện tại mà không làm ton hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó cùa các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đàm tiến bộ xã hội và báo vệ môi trường” (Luật bảo vệ môi trường năm 2014). Từ đó, một sinh ke là ben vững “khi có thẻ giải quyết được hoặc có khá năng phục hồi từ những căng thăng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khá năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho the hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn". Tính ben vững của sinh ke cần được đánh giá dựa trên nhiều phương diện, bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế (Chambers và Conway, 1992; Scoones 1998; Ashley và Camey 1999; Solesburry 2003) Theo đó: • Một sinh ke được coi là bền vững về kỉnh tế khi nó đạt được và duy trì một mức phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa các khu vực. • Tính bền vũng về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được giảm thiếu và công bằng xã hội được tối đa.
• Tính bền vũng về môi trường đe cập đen việc duy trì hoặc tâng cường năng suất cùa các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích cùa các the hệ tương lai. • Một số sinh ke có tính bền vũng về thể chế khi các cấu trúc hoặc quy trình hiện hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo thời gian đế hồ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế. Cà 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau và cần tìm ra một sự cân bằng toi ưu. Cùng trên quan điếm đó, một sinh ke là ben vững khi: có khả năng thích ứng và phục hoi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; không phụ thuộc vào sự hồ trợ từ bên ngoài; duy trì được nàng suất trong dài hạn cùa các nguồn tài nguyên thiên nhiên; và không làm phương hại đến các sinh ke khác.2 Đánh giá sinh kế bền vững 1.1 Hệ tiêu chí đánh giá Các nghiên cứu cùa Scoones (1998) và DFID (2001) đều thống nhất đưa ra một so tiêu chí đánh giá tính bền vừng cùa sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế.
• Kinh tế: được đánh giá chù yeu bang chì tiêu gia tăng thu nhập cùa hộ gia đình. • Xã hội: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đàm bão an ninh lương thực. • Môi trường: được đánh giá thông qua việc sữ dụng ben vững hơn các nguồn vốn tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy hài sàn,.), không gây hũy hoại môi trường (như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường,. • Thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: hệ thống pháp lý được xây dựng đầy đũ và đong bộ, quy trình quy hoạch chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quà; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi ve thế chế và chính sách đe giúp các sinh ke được cải thiện liên tục theo thời gian.2 Khung sinh kế bền vững DFID Năm 2001, Cơ quan phát triển Quốc tế Vương quoc Anh (DFID) đưa ra khái niệm ve khung sinh ke bền vững, dựa trên định nghĩa sinh ke bao gom khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện song cho con người.
Khung DFID, theo đó khái quát hóa sự tác động qua lại của 5 nhóm yeu tố ành hưởng đến sinh ke là: (i) nguồn vốn sinh kế; (ii) hoạt động sinh ké; (iii) kết quả sinh kế; (iv) thể chế và chính sách; và (v) bối cành bên ngoài (Hình 1) LIVELIHOOD OUTCOMES. Increased well- being. Improved food security. More sustainable use of NR base Hình 1.
Khung sinh kế bền vững DFID 2001 4 • Nguồn vốn sinh kế (Livelihood Assets) Khả năng tiếp cận cùa con người đoi với các nguồn lực sinh ke được coi là yeu tố trọng tâm trong cách tiếp cận sinh ke ben vững. Có 5 loại nguồn vốn sinh kế: - Nguồn vốn tự nhiên: bao gom các nguồn tài nguyên có trong môi trường tự nhiên mà con người có the sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh ke; ví du như đất đai, rừng, tài nguyên biển, nước, không khí, địa hình,.