Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu. - Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang — Hưng Yên. - Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang — Hưng Yên.
CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Việc làm và vai trò của việc làm 1. Khái niệm Điều 9, Chương II, Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam có ghi rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: - Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. - Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cắm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm: - Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hay tinh than, không bi pháp luật cam, được trả công dưới dang bằng tiền hoặc hiện vật. - Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó. Đó có thê là các công việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu tư nhân của gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm. Trong nền kinh tế, người có sức lao động nói chung luôn có nhu cầu việc làm để tạo nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống.
Người có việc làm là những người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dan số hoạt động kinh tế dang làm công việc dé nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh, công việc nội trợ, chăm sóc con cai. của hộ gia đình. Khái niệm người có việc làm còn bao gồm những người có sức lao động, có việc làm nhưng chưa châp nhận làm việc, hoặc chưa săn sàng làm việc, thậm chí không chịu làm việc. Trên thực tế, do phân biệt người có việc làm không chịu làm việc và người không có việc làm thực sự có những khó khăn nên những đối tượng này được liệt kê vào những người không có việc làm.
Cách thức này tuy có tiện về thống kê, nhưng không phản ánh chính xác thực tiễn. Trong số người có việc làm, căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu cầu làm thêm của người được coi là có việc làm, người ta lại chia ra thành người đủ việc làm và người thiếu việc làm. Điều 104, mục I, chương VII, Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam có quy định: “Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.
Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngăn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.” Theo đó, ñgười đủ việc làm gồm những người làm việc đủ thời gian quy định là có số giờ làm việc trong tuần lễ lớn hơn hoặc bằng 48 giờ; hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 48, nhưng không có nhu cầu làm thêm; hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 48, nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công trình nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành. Người thiếu việc làm là những người có tông sô giờ làm việc trong 1 tuần dưới 48 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn quy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sảng làm việc nhưng không có việc để làm. Bên cạnh nhóm người có việc làm, còn ton tại nhóm người không có việc làm. Đó là những người thất nghiệp.
Thất nghiệp là sự tồn tại của một bộ phận lực lượng lao động có khả năng và san sàng làm việc nhưng không tìm được việc lam. Theo quy định của Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội, Người that nghiệp là những người đủ từ 15 tuôi trở lên, có nhu câu làm việc nhưng không có việc làm trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu. hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 48 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc. Vai trò của việc lam Việc làm có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vì sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các nguồn lực như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động có vai trò quan trọng va quyết định tới sự phát triển. Qua việc làm ta có thể đánh giá được sự phát triển của nông thôn về nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cụ thể như an sinh xã hội, trình độ phát triển của dân cư, trình độ học hành. Ở nông thôn, ty lệ người có việc làm thường xuyên cao thì cuộc sống của người dân sẽ én định, giảm bớt các tệ nạn xã hội mang lại do lao động không có việc làm gây ra như chơi bời cờ bạc, nghiện hút ma tuý. Vì thế, việc giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn sau khi bị thu hồi đất càng trở nên cần thiết.
Giải quyết tốt vấn đề này không những góp phần phát triển kinh tế xã hội mà còn giúp người dân lao động nông thôn giảm bớt việc bị lôi kéo vào các hoạt động không lành mạnh trong xã hội. Việc làm thường xuyên giúp cho người dân có đời sông thu nhập 6n định, giúp cho họ có khả năng dễ dàng tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, đồng thời nâng cao khả năng nhận thức của người dân. Việc làm cho lao động nông thôn sẽ góp phần thúc đây cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện. Tạo ra sự thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
Việc làm còn giúp cho người lao động cải tạo bản thân, thông qua những quy định, nguyên tắc trong công việc mà người lao động sẽ sông có ý thức, trách nhiệm hơn đối với bản thân và cộng đồng xung quanh. Việc làm cũng làm cho người lao động hoà nhập với cộng đồng thông qua hoạt động lao động tập thé và các mối quan hệ xã hội. Qua người lao động có thể tiếp thu, nâng cao trình độ văn hoá, các kỹ năng sống. thậm chí tìm được công việc mới phù hop hơn, có thu nhập cao hơn, nâng cao đời sông vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình.
Đối với người nông dân đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, rất quan trọng. Giờ đây, khi đất canh tác của người nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô thị lam cho nông dân rơi vào tinh trạng tư liệu san xuất bi mat hoặc giảm di. Trong khi, họ là những người thường rat dé bị tổn thương trước sự chi phối của quy luật thị trường. Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, lối tư duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún càng làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của người nông dân càng trở nên khó khăn.
Do đó, tạo việc làm cho nông dân là rất cần thiết, nhất là những nông dân bị mat đất canh tác. Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hôi đất nông nghiệp. Tính tất yếu của xu thế phát triển các Khu công nghiệp, đô thị trong quá trình công nghiệp hoa. Hiện đang có nhiều quan niệm về khu công nghiệp.
Có quan niệm cho răng, khu công nghiệp là một vùng đất được phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt bằng cho các ngành công nghiệp. Có quan niệm coi khu công nghiệp như một khu đô thị công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoại việc cung cấp cơ sở hạ tầng, tiện ích công cộng, khu công nghiệp còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ, hành chính, nhà ở cho người lao động. ngoài hàng rào khu công nghiệp. Theo nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường rào bao quanh) không có dân cư sinh sống, do các cơ quan Nhà nước có thầm quyền quyết định thành lập.
Từ khi xuất hiện các khu công nghiệp cho đến nay, thực tế đã cho chúng ta thấy vai trò hết sức quan trọng của chúng trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thường thiếu vốn và kỹ thuật. Việc tập trung các doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp đã thu hút được nguồn vốn lớn từ nước ngoài, cũng như sự tập trung được nguồn vốn trong nước, tạo điều kiện đưa kỹ thuật mới vào sản xuất, thúc day chuyên giao và tiếp thu tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng các ngành mũi nhọn và nâng cao vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng bền vững. Việc phát triển các khu công nghiệp ngoài việc giúp giải quyết khó khăn về vốn, việc làm còn giúp chính phủ nước sở tại học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của nước mình, mở ra khả năng phát triển công nghiệp theo hướng hiên đại hoá, góp phần thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, hoà nhập với kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp khi tham gia vào các khu công nghiệp sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh, khuyến trương nhãn hiệu hàng hoá của mình.