Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA KINH NGHIEM THUC TIEN VE CHUYEN DỊCH CƠ CAU NGÀNH KINH TE 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cơ cấu kinh tế và chuyên dịch cơ câu ngành kinh tế là đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết đề cập đến nhiều góc độ khác nhau: Ngô Đình Giao, 1994. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hương công nghiệp hóa nên kinh tế quốc dân. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia.
Phát triển kinh tế bền vững là một trong những yếu tổ quyết định sự ổn định và phát triển của đất nước. Đối với một quốc gia, yêu cầu của sự phát triển luôn luôn đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó có sự xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ va giữa các khu vực kinh tế. Các tác giả cuốn sách đã tập trung trình bày cơ sở lý luận và sự cần thiết của chuyền dịch cơ cấu kinh tế theo hương công nghiệp hóa. Đồng thời các tác giả đề xuất những phương hướng và biện pháp chuyên dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong những năm tiếp theo.
Cuốn sách mở ra góc nhìn toàn diện hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Tác giả đã tiếp cận vấn đề chuyên dịch cơ cấu ngành kinh tế dưới tác động của việc phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn.
Trong tác phẩm của minh, tác giả đã nhấn mạnh tam quan trọng của việc phát triển các ngành trọng điểm dé chuyên dich cơ cau kinh tế và khang định đây là động lực chính thúc đây quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ, 1999. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện khu vực và thé giới. Hà Nội : Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia.
Tac pham da dé cập tới các luận cứ khoa hoc của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và thế giới, Thực trạng chuyên dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở nước ta giai đoạn 1991 - 1997, giai đoạn mà đất nước bắt đầu quá trình hội nhập với thế giới. Đồng thời tác giả cũng đề cập tới một số van dé chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại ở một số vùng và đưa ra các phương hướng, giải pháp cho việc chuyên dịch cơ cau kinh tế của nước ta theo hướng hội nhập với thé giới. Bùi tat thang và cộng sự, 2005. Chuyển dich cơ cấu kinh tẾ ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 02. Đây là một đề tài cấp nhà nước có sự tham gia của nhiều học giả và có sự nghiên cứu day đủ về toàn diện về van đề chuyền dich cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam trong bối cảnh mới. Đề tài đã đề cập đến khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình chuyền dich cơ cau kinh tế. Đặc biệt trong dé tai các nhân tố mới ảnh hưởng tới quá trình chuyên dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam hiện nay được đưa ra phân tích một cách khoa học và có hệ thống.
Các nhân tố toàn cầu hóa và những động thái của thị trường thế giới hay điểm xuất phát mới của kinh tế Việt Nam được đánh giá đầy đủ để từ đó đưa ra các quan điểm và và giải pháp thúc đây quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. Bùi Tat Thắng, 2006. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội.
Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra một số khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời tác giả đã đi sâu vào việc phân tích, đánh giá về van đề chuyên dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước. Nguyễn Tiến Long, 2009. Téc động của FDI tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên.
Đại Học Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh - Đại học Thái Nguyên. Tác giả đã nghiên cứu đánh giá quá trình tác động của FDI lên quá trình chuyên dich cơ cau kinh tế ở phạm vi cấp tỉnh. Với phương pháp định lượng và số liệu thống kê khá đầy đủ giai đoạn 1997 - 2007, tác giả đã đưa ra các phân tích và kết quả rõ nét về tác động của FDI tới chuyền dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên. Qua các nghiên cứu trên ta có thé thay răng chuyên dịch cơ cấu kinh tế là tiêu chí thé hiện chất lượng của sự tăng trưởng, là dé tài không mới được rất nhiều học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm.
Song trong giai đoạn 2010 - 2014 chưa có đề tài nghién cứu về chuyên dich cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tinh Bắc Giang. Vì vậy dé tai là mới và có ý nghĩa thực tế cao.2 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cầu ngành kinh tế Hình 1.1 Khung lý thuyết Một sô khái Một sô mô niệm hình Các nhân tô ảnh hưởng tới chuyên dịch Nhóm Nhóm Nhóm Tỉ trọng | | Tỉ trọng nhân tố nhân tố nhân tố các lao động đầu vào đầu ra chính ngành các sản xuất sản xuất sách trong ngành GDP 1.1 Khái niệm cơ cau Theo triết học duy vật biện chứng cơ cầu (hay kết cấu) của một hệ thống là khái niệm dùng dé chi cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của hệ thống. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thé, nó biểu hiện ra như là một thuộc tinh của sự vật, hiện tượng, và biến đôi cùng với sự biến đổi sự vật hiện tượng. Như vậy, có thé thay có rất nhiều trình độ, nhiều kiêu tô chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống.
Tác giả đồng tình với khái niệm : “Cơ cấu kinh tế là tổng thé các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, ti trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.” (Tran Văn Chu, 2010, trang 117) Cơ cấu kinh tế là kết quả của quá trình phát triển kinh tế, được định dang tại một thời điểm nhất định thông qua mối tương quan giữa các bộ phan kinh tế cấu thành va quan hệ của từng cấu thành với đại lượng tong. *Phân loại cơ cau kinh tế Từ góc độ kinh tế vĩ mô và trong phân tích cấu trúc của nền kinh tế, đại lượng tổng hay được chọn là GDP và tùy vào mục đích phân tích cụ thể, các loại cơ cau kinh tế sau đây thường hay được dé cập 3 loại, đó là: - Cơ cấu kinh tế theo sở hữu: Nguyễn Văn Sử (2013, trang 281) đã phát biéu “ Cơ cau kinh tế theo sở hữu phản ánh mối quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữa các chủ thể tham gia vào quá trình tăng trưởng và phát triển”. Ở Việt Nam, nếu theo tiêu chí sở hữu cơ cấu kinh tế được chia theo ba khu vực sở hữu là khu vực kinh tế nhà nước, khu vực ngoài nhà nước (tập thể, tư nhân và cá thể) và khu vực có vốn nước ngoài. Thông qua tỷ trọng của từng khu vực trong GDP có thể nắm bắt được xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế trong quá trình phát triển.
- Cơ cầu kinh tế theo vùng lãnh thé: Vùng kinh tế là một bộ phận không gian lãnh thé quốc gia, loại cơ cấu kinh tế này phản ánh mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ trên một đất nước trong hoạt động kinh tế tổng thể. Phân tích cơ cấu kinh tế vùng có ý nghĩa cho xây dựng chính sách phát triển vùng trên cơ sở phát huy tiềm năng của từng vùng và đóng góp của vùng vào nền kinh tế. Ngoài ra, cơ cấu kinh tế vùng thường được sử dụng để nghiên cứu về sự chênh lệch phát triển giữa các vùng trong một nước, theo dõi xu hướng thay đổi mối tương quan giữa vùng động lực với vùng nghèo và các vùng khác. Từ đó gợi mở chính sách hướng tới giảm mức độ chênh lệch về phát triển giữa các vùng.
Co cấu kinh tế theo ngành (hay cơ câu ngành kinh tế): Loại co cau kinh tế này phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành hợp thành nền kinh tế quốc dân bao gồm ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trình độ sản xuất càng cao thì tập hợp ngành kinh tế càng trở nên phức tạp và đa dạng. Điều này thấy khá rõ giữa một bên là các nước phát triển và một bên là các nước đang phát triển, có mức thu nhập thấp. Ở các nước kém phát triển, nông nghiệp được coi là ngành chủ đạo, trong khi thiếu vắng nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ mà chỉ xuất hiện khi đạt trình độ phát triển cao hơn.
Đó cũng là lý do khiến cơ cấu ngành trở thành một chỉ tiêu để đánh giá quá trình công nghiệp hóa của một quốc gia, chứ không phải hai loại cơ cấu kinh tế nêu trên. Như vậy, mỗi loại cơ cấu kinh tế chứa đựng thông tin phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận cấu thành trong đại lượng tổng và cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển kinh tế. Trên thực tế có thê còn nhiều loại cơ cấu kinh tế khác mà cách phân loại phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và phân tích. Như đã giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, Đề tai này chỉ tập trung vào những vân đê vê cơ câu ngành kinh tê.
*Tính chất của cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế có hai tính chất quan trọng Tính khách quan: Cơ cấu kinh tế do những yếu tố của nền sản xuất quy định (sức lao động, tư liệu sản xuất, công nghệ, tài nguyên. Cơ cau kinh tế còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, mức độ phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. Điều đó có nghĩa là cơ cau kinh tế mang tính khách quan, tồn tại và vận động độc lập với con người. Con người không thể tạo ra cơ cấu kinh tế theo chủ quan của mình.