Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia đặc biệt, vừa là tư liệu sản xuất thiết yếu, vừa là thành tố cốt lõi cấu thành không gian sinh tồn và phát triển của mỗi quốc gia. Nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua biện pháp thu hồi đất để phân phối lại quỹ đất cho các nhu cầu sử dụng mới. Sau hơn 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 2013, chế định thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Tình trạng quy định thiếu đầy đủ về tiêu chí xác định dự án, trình tự thủ tục chưa chặt chẽ, sự lạm quyền của cơ quan quản lý và sự chênh lệch địa tô sau thu hồi đã dẫn đến làn sóng khiếu nại, khiếu kiện phức tạp, chiếm tỷ lệ áp đảo trong các vụ việc hành chính trên phạm vi cả nước. Trong bối cảnh Đảng ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 và Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 2024 vào ngày 18/01/2024, việc nghiên cứu các căn cứ khoa học pháp lý nhằm đánh giá toàn diện chế định này là yêu cầu cấp thiết. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Tuấn Đạt được thực hiện nhằm giải quyết trực diện vấn đề này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  1. Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những tiền đề lý luận và thực tiễn của việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; qua đó nhận diện được sự cần thiết khách quan của việc sửa đổi, bổ sung trong Luật Đất đai năm 2013 và sự đổi mới trong Luật Đất đai năm 2024 về vấn đề này.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • (1) Đưa ra các vấn đề lý luận về hoạt động thu hồi đất, lý luận pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hiện nay; đánh giá thực trạng về công tác thu hồi đất, nhận diện các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
    • (2) Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để góp phần sửa đổi, hoàn thiện chế định thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong Luật Đất đai năm 2024; nhận diện những điểm mới so với Luật Đất đai năm 2013 và rà soát những vấn đề cần tiếp tục cụ thể hóa, chi tiết hóa trong các văn bản hướng dẫn thi hành thời gian tới theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Đối tượng nghiên cứu:

  • Một số vấn đề lý luận chung về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (khái niệm, đặc điểm, vai trò, thẩm quyền, trình tự, thủ tục);
  • Quy định pháp luật Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2013 về hoạt động thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
  • Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về thu hồi đất trên phạm vi cả nước.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Khóa luận tập trung vào nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2022; các điều khoản của Luật Đất đai năm 2013 điều chỉnh việc thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội (đặc biệt là Điều 62, 66, 67, 69, 70, 71); đồng thời đối chiếu với các quy định mới được thông qua tại Luật Đất đai năm 2024.
  • Về thời gian: Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê được phân tích trong giai đoạn thi hành Luật Đất đai năm 2013 từ năm 2013 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là quan điểm pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng phải phản ánh phù hợp với cơ sở hạ tầng kinh tế và nhu cầu khách quan của xã hội. Nghiên cứu khai thác quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất.

Về mặt khái niệm và học thuật, tác giả tiếp cận hệ thống thuật ngữ chuyên ngành từ nhiều nguồn chuẩn mực:

  • Khái niệm thu hồi đất qua các văn bản lập pháp: Từ điển tiếng Việt, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003, Điều 54 Hiến pháp năm 2013, và Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 (xác định thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được trao quyền hoặc thu lại đất của người vi phạm pháp luật đất đai).
  • Khái niệm "dự án phát triển kinh tế - xã hội": Tiếp cận theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000 và Khoản 7 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2005.
  • Khái niệm "lợi ích quốc gia" và "lợi ích công cộng": Khảo cứu từ The International Relations Dictionary, Từ điển Thuật ngữ Ngoại giao (2002) của Học viện Quan hệ quốc tế và Từ điển pháp lý Black's Law Dictionary.
  • Chuẩn mực pháp lý quốc tế về quyền tài sản: Điều 17 Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948 (bảo vệ quyền sở hữu tài sản, chống tước đoạt tùy tiện) và Điều 2 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) về nghĩa vụ bảo đảm sự đền bù hiệu quả.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể gồm:

  • Phương pháp hệ thống phân tích - tổng hợp: Vận dụng xuyên suốt cả 3 chương để làm rõ các luận điểm lý luận, hệ thống hóa các quy phạm pháp luật thực định và xâu chuỗi dữ liệu thực tế thi hành luật.
  • Phương pháp bình luận: Sử dụng chủ yếu ở Chương 2 để phân tích, mổ xẻ nội dung các quy định pháp luật (Điều 62, 66, 67, 70, 71 Luật Đất đai năm 2013) và đối chiếu với các sai phạm, bất cập phát sinh trong thực tế.
  • Phương pháp lịch sử: Được thực hiện ở Chương 1 nhằm truy nguyên sự biến chuyển trong nhận thức lý luận, các thuật ngữ và sự tiến hóa của quy định pháp luật qua từng thời kỳ sửa đổi luật đất đai.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Đánh giá thực tiễn nhận thức xã hội, mức độ tuân thủ pháp luật và phản ứng của người sử dụng đất cùng chính quyền địa phương trong quá trình thu hồi đất.

Nguồn dữ liệu của khóa luận dựa trên các báo cáo chính thức cấp quốc gia: Báo cáo số 85/BC-BTNMT (2022) của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá tình hình thi hành Luật Đất đai năm 2013; Báo cáo tham luận về xử lý lãng phí đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; số liệu thống kê giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thanh tra Chính phủ (2013-2020 và 2023); cùng các báo cáo chuyên đề của Tòa án nhân dân tối cao.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng khoa học pháp lý cho chế định thu hồi đất. Tác giả luận giải thu hồi đất là một biện pháp pháp lý mang tính mệnh lệnh hành chính đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai, đồng thời xác lập 5 đặc điểm cốt lõi:

  1. Là biện pháp pháp lý chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thực hiện;
  2. Quyết định thu hồi mang tính mệnh lệnh hành chính bắt buộc thi hành;
  3. Phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của Nhà nước và xã hội hoặc đóng vai trò là chế tài xử lý vi phạm;
  4. Bắt buộc phải thực hiện bằng văn bản theo đúng trình tự, thủ tục luật định nghiêm ngặt;
  5. Gây ra thiệt hại về quyền sử dụng đất của người bị thu hồi, từ đó làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước.

Sự cần thiết khách quan của việc thu hồi đất được tác giả chứng minh qua mối quan hệ tương quan nghịch giữa quỹ đất có hạn và áp lực phát triển: Tính đến ngày 31/10/2023, dân số Việt Nam đạt 99.907.255 người trên tổng quỹ đất 33.169.800 ha, mật độ dân số bình quân 321 người/km² (xếp thứ 15 trên thế giới); riêng thành phố Hà Nội có mật độ lên tới 2.398 người/km², gấp 8,2 lần mức bình quân cả nước. Do đó, việc thu hồi và chuyển dịch đất đai sang xây dựng hạ tầng, khu công nghiệp và đô thị là yêu cầu tất yếu để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất.

Về cơ cấu điều chỉnh, tác giả xác định pháp luật thu hồi đất cấu thành từ 4 nhóm quy phạm: (i) căn cứ pháp lý thu hồi đất; (ii) nội dung, trình tự, thủ tục và thẩm quyền; (iii) bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (iv) giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, chương này thiết lập 3 tiêu chí đánh giá hiệu quả của chế định thu hồi đất: bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất; tính minh bạch, dân chủ và kịp thời; cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế (kết hợp đồng bộ giữa thể chế, thiết chế và phương thức vận hành).

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 về vấn đề thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Chương 2 mổ xẻ thực trạng pháp lý và phân tích số liệu thi hành Luật Đất đai năm 2013 sau một thập kỷ áp dụng. Về mặt lập pháp, tác giả phân tích kết cấu Điều 62 (phân loại dự án theo cấp chấp thuận chủ trương đầu tư: Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, HĐND cấp tỉnh); Điều 66 (thẩm quyền thu hồi đất thuộc UBND cấp tỉnh và cấp huyện, nghiêm cấm ủy quyền cho cơ quan tài nguyên môi trường); Điều 67, 70, 71 (thông báo thu hồi đất, kiểm đếm bắt buộc và cưỡng chế thu hồi đất).

Về kết quả đạt được, công tác thu hồi đất đã tạo lập quỹ đất sạch đáng kể: Toàn quốc đã thu hồi 1.179.879,78 ha đất để thực hiện 25.362 dự án (trong đó có 109.402,8 ha phục vụ 930 dự án quốc phòng, an ninh). Phương thức tự thỏa thuận với người sử dụng đất ghi nhận 3.691 dự án với quy mô 105,86 nghìn ha, trong đó có 3.395 dự án thỏa thuận thành công (đạt 99,73% diện tích dự án thỏa thuận).

Tuy nhiên, chương này tập trung làm rõ 6 bất cập thực tiễn nghiêm trọng đi kèm các dẫn chứng vụ việc điển hình:

  1. Thu hồi tràn lan đất nông nghiệp tạo chênh lệch địa tô bất công: Dự án Khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra, Hà Nội), người dân chỉ nhận mức bồi thường đất nông nghiệp 252.000 đồng/m², nhưng sau khi chuyển đổi mục đích và hoàn thiện hạ tầng, giá đất thương mại tại đây lên tới 300 - 400 triệu đồng/m².
  2. Tình trạng dự án treo, chậm tiến độ gây lãng phí tài nguyên: Báo cáo từ 60/63 địa phương ghi nhận có 381 dự án với diện tích 38.501,52 ha đã có thông báo thu hồi đất nhưng không triển khai thực hiện.
  3. Hiện tượng trục lợi chính sách bồi thường: Tháng 6/2015, khi TP Cẩm Phả (Quảng Ninh) thông báo thu hồi hơn 900 ha để mở rộng mỏ than, các hộ dân đã cấu kết với cán bộ địa phương "hô biến" hơn 50 ha rừng sản xuất (rừng keo) thành đất trồng cây lâu năm (trồng nhãn) nhằm nâng mức tiền đền bù từ 6.000 đồng/m² lên 46.000 đồng/m².
  4. Vi phạm trình tự, thủ tục hành chính: Tháng 9/2015, UBND huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) thực hiện thu hồi 286,82 ha (gồm 35 ha đất nông nghiệp tại xã Hoằng Đông) để mở rộng KCN Hoàng Long với quy trình siêu tốc: họp dân sáng 7/9, tối giao thông báo và sáng 8/9 yêu cầu nhận tiền, vi phạm nghiêm trọng Điều 67. Tại Dự án sân golf Long Biên (Hà Nội), UBND TP Hà Nội ban hành Quyết định thu hồi đất số 6544/QĐ-UBND ngày 8/12/2014, nhưng đến ngày 6/7/2015 UBND quận Long Biên mới ban hành Quyết định số 5045/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 69 (yêu cầu quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường phải thực hiện trong cùng một ngày).
  5. Kẽ hở về thời hạn của thông báo thu hồi đất: Điều 67 chỉ ấn định thời hạn tối thiểu (90 ngày đối với đất nông nghiệp, 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp) mà không quy định thời hạn hiệu lực tối đa, dẫn đến việc người dân bị hạn chế quyền sử dụng đất trong thời gian kéo dài vô tận.
  6. Khiếu nại, tố cáo và tranh chấp bùng phát: Giai đoạn 2013–2020, số vụ việc khiếu nại về đất đai chiếm tới 81,6% (419.202 vụ việc); đơn thư liên quan đất đai chiếm 62,9% (324.241 đơn). Cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước 2.902 tỷ đồng trên 326 ha đất, trả lại cho công dân 866 tỷ đồng trên 458 ha, khôi phục quyền lợi cho 11.629 người, xử lý hành chính 539 người và chuyển cơ quan điều tra 47 vụ với 192 đối tượng. Theo TANDTC, các vụ án hành chính tăng thêm 10.889 vụ; riêng năm 2023 số vụ khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất tăng 15% so với năm 2022.

Nguyên nhân căn bản được tác giả chỉ ra là do sự thiếu minh định giữa chức năng đại diện chủ sở hữu và chức năng quản lý hành chính nhà nước về đất đai; khái niệm "phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng" tại Điều 62 quá mơ hồ, dẫn đến cơ chế "vừa đá bóng, vừa thổi còi" và tạo mảnh đất cho lợi ích nhóm thao túng.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Từ mục lục và các lập luận xuyên suốt, tác giả xác lập 3 yêu cầu hoàn thiện pháp luật: (i) Phù hợp với đường lối, chủ trương tại Nghị quyết 18-NQ/TW; (ii) Đảm bảo hài hòa lợi ích 3 chủ thể (Nhà nước - nhà đầu tư - người sử dụng đất); (iii) Đảm bảo tính đồng bộ, tương thích giữa Luật Đất đai với Bộ luật Dân sự, Luật Tố tụng hành chính và Luật Khiếu nại.

Hệ thống giải pháp được đề xuất gồm hai nhóm chính:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế: Cụ thể hóa tiêu chí xác định dự án vì lợi ích quốc gia, công cộng; loại bỏ việc áp dụng tùy tiện cơ chế thu hồi hành chính cho các dự án thuần túy thương mại; luật hóa cơ chế thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất dân sự theo tinh thần đổi mới của Luật Đất đai năm 2024; bổ sung quy định giới hạn thời hiệu tối đa của thông báo thu hồi đất để bảo vệ quyền tài sản của công dân; chuẩn hóa quy trình cưỡng chế kiểm đếm và cưỡng chế thu hồi đất theo hướng tăng cường đối thoại thực chất.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại độc lập, hạn chế tình trạng cơ quan ra quyết định hành chính đồng thời là cơ quan giải quyết khiếu nại lần đầu; minh bạch hóa toàn bộ thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tăng cường năng lực, trách nhiệm và tính kỷ luật của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp một hệ thống dữ liệu định lượng có giá trị thực chứng cao về công tác thu hồi đất và giải quyết tranh chấp trong giai đoạn 2013–2023:

Chỉ số / Nội dung thực tiễn Số liệu thống kê trong khóa luận Nguồn trích xuất
Quy mô thu hồi đất toàn quốc 1.179.879,78 ha (25.362 dự án) Báo cáo Bộ TN&MT
Thu hồi phục vụ quốc phòng, an ninh 109.402,8 ha (930 dự án) Báo cáo tổng kết 63 tỉnh, thành
Dự án thực hiện thỏa thuận nhận QSDĐ 3.691 dự án (105,86 nghìn ha); 3.395 dự án đạt tỷ lệ 99,73% Báo cáo số 85/BC-BTNMT
Dự án chậm tiến độ, có thông báo chưa thu hồi 381 dự án (38.501,52 ha) tại 60/63 tỉnh, thành Báo cáo tham luận Bộ TN&MT
Vụ việc khiếu nại về đất đai (2013–2020) 419.202 vụ việc (chiếm 81,6% tổng số khiếu nại) Thanh tra Chính phủ
Đơn thư khiếu nại về đất đai (2013–2020) 324.241 đơn (chiếm 62,9% tổng số đơn) Thanh tra Chính phủ
Kết quả xử lý sai phạm qua thanh tra Thu hồi: 2.902 tỷ đồng, 326 ha; Trả công dân: 866 tỷ đồng, 458 ha Thanh tra Chính phủ
Cán bộ, đối tượng sai phạm bị xử lý 539 người bị xử lý hành chính; 47 vụ / 192 đối tượng chuyển điều tra Thanh tra Chính phủ
Mức gia tăng án hành chính đất đai Tăng 10.889 vụ so với nhiệm kỳ trước; năm 2023 khiếu nại tăng 15% TANDTC & Thanh tra Chính phủ

Về đóng góp học thuật, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc pháp lý của hoạt động thu hồi đất, phân định ranh giới giữa chức năng đại diện sở hữu toàn dân và chức năng quản lý hành chính của Nhà nước. Về đóng góp thực tiễn, tác giả đã phát hiện và mổ xẻ chính xác các lỗ hổng kỹ thuật lập pháp tại các Điều 62, 66, 67, 69 và 70 của Luật Đất đai năm 2013 thông qua các vụ án, vụ việc sai phạm thực tế; từ đó cung cấp luận cứ thực chứng phục vụ quá trình ban hành các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2024.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Công trình giới hạn phạm vi nghiên cứu vào khía cạnh pháp lý của hoạt động thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Các chế định liên quan mật thiết như phương pháp định giá đất cụ thể để tính bồi thường, các mô hình sinh kế tái định cư chuyên sâu, hoặc kinh nghiệm lập pháp quốc tế (như cơ chế trưng mua tài sản eminent domain) chỉ được đề cập như các yếu tố tác động chứ chưa được khảo sát độc lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục nghiên cứu đánh giá tác động thực tế của Luật Đất đai năm 2024 sau khi có hiệu lực thi hành; rà soát sự tương thích của các Nghị định hướng dẫn thi hành về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; nghiên cứu xây dựng cơ chế kiểm soát tư pháp độc lập đối với các quyết định hành chính về thu hồi đất.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Đất đai, Luật Kinh tế và Luật Hành chính, có thể sử dụng công trình để nghiên cứu cấu trúc chế định thu hồi đất và phương pháp phân tích thực tiễn áp dụng luật.
  • Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan thực thi pháp luật: Cán bộ địa chính, chuyên viên Ban bồi thường giải phóng mặt bằng cấp huyện, cơ quan Thanh tra và Tòa án nhân dân các cấp có thể tham khảo các phân tích về lỗi vi phạm quy trình (như thời hạn ban hành quyết định, trình tự kiểm đếm bắt buộc) để phòng ngừa sai phạm công vụ.
  • Nhà đầu tư dự án hạ tầng, đô thị: Giúp nhận diện rủi ro pháp lý giữa cơ chế thu hồi đất hành chính và cơ chế tự thỏa thuận dân sự trong quá trình triển khai dự án đầu tư.

Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất là hệ thống án chứng, vụ việc sai phạm thực tế được phân tích chi tiết tại Chương 2 (các vụ việc tại Nam Thăng Long, Cẩm Phả, Hoằng Hóa, Long Biên).


Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất của Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 là gì?
Điều 62 quy định các trường hợp thu hồi đất dựa trên cấp thẩm quyền quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư mà không đưa ra tiêu chí định lượng rành mạch để phân biệt giữa dự án công cộng phi lợi nhuận và dự án thương mại thuần túy của doanh nghiệp. Kẽ hở này dẫn đến việc chính quyền địa phương lạm dụng quyết định hành chính để thu hồi đất nông nghiệp giá rẻ giao cho doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, phát sinh chênh lệch địa tô lớn và gây khiếu kiện kéo dài.

2. Vụ việc tại Khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra Hà Nội) được tác giả dùng để minh chứng cho vấn đề gì?
Vụ việc được tác giả dẫn chứng để làm rõ sự bất hợp lý trong việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các dự án đô thị thương mại. Người dân có đất bị thu hồi chỉ nhận mức bồi thường đất nông nghiệp là 252.000 đồng/m², nhưng sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xây dựng khu đô thị, giá đất thương mại tại đây được bán với giá từ 300 đến 400 triệu đồng/m², phản ánh sự bất công trong việc điều tiết địa tô chênh lệch.

3. Tỷ lệ khiếu nại liên quan đến đất đai giai đoạn 2013–2020 được công bố trong văn bản là bao nhiêu?
Theo số liệu từ Thanh tra Chính phủ được tác giả trích dẫn, trong giai đoạn 2013–2020, số vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai là 419.202 vụ việc, chiếm tới 81,6% tổng số vụ việc khiếu nại hành chính; số đơn thư khiếu nại về đất đai là 324.241 đơn, chiếm 62,9% tổng số đơn tiếp nhận.

4. Kẽ hở pháp lý về thông báo thu hồi đất tại Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 được phân tích như thế nào?
Điều 67 chỉ quy định thời gian thông báo trước tối thiểu (90 ngày với đất nông nghiệp, 180 ngày với đất phi nông nghiệp) trước khi ban hành quyết định thu hồi đất mà không ấn định thời hạn tối đa. Hệ quả là sau khi có thông báo, quyền định đoạt, cải tạo của người sử dụng đất bị phong tỏa, nhưng cơ quan nhà nước kéo dài nhiều năm không ban hành quyết định thu hồi, tạo ra tình trạng "quy hoạch treo", xâm hại quyền lợi hợp pháp của người dân.

5. Định hướng đổi mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2024 đối với vấn đề thu hồi đất được nêu trong đề tài là gì?
Đề tài nhấn mạnh Luật Đất đai năm 2024 đã chuyển hướng tiếp cận: cụ thể hóa danh mục các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc gia, công cộng; đồng thời mở rộng và linh hoạt hóa cơ chế thỏa thuận dân sự (nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) giữa nhà đầu tư và người dân đối với các dự án có tính chất sản xuất, thương mại, nhằm giảm thiểu áp đặt mệnh lệnh hành chính.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Tuấn Đạt là công trình nghiên cứu công phu, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Luật Đất đai năm 2013. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích quy phạm và các số liệu thanh tra, án chứng thực tế, khóa luận đã chỉ rõ các nút thắt pháp lý dẫn đến tình trạng khiếu kiện đất đai phức tạp trong hơn một thập kỷ qua. Các luận điểm và giải pháp được đề xuất trong công trình có giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học cho việc triển khai đồng bộ Luật Đất đai năm 2024 theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW.