Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức về QLBVR dựa vào cộng đồng 1. Khái niệm về cộng đồng Các nghiên cứu về cộng đồng đưa ra các khái niệm khác nhau về thuật ngữ này, nhưng cơ bản được hiểu như sau: Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng, được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn, bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hóa xã hội (Nguồn FAO, 2000). Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau (N.
Quân, 2000) Luật đất đai 2003 đã đưa ra quan niệm về cộng đồng và xác định quyền sử dụng đất của cộng đồng: “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất và công nhận quyền sử dụng đất” [32]. Điều 3 Luật bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 “ cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” [31] Địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư cũng được Luật bảo vệ và phát triển rừng công nhận trong hoạt động quản lý, bảo vệ rừng ở điều 29, 30. Từ các khái niệm trên, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thuộc làng, bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi 5 ích chung. Ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng).
QLBVR dựa vào cộng đồng là QLBVR mà phát huy được những nội lực của cộng đồng cho tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến rừng như: chặt, phá, lấn chiếm rừng, săn, bẫy bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng và thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ rừng. Những giải pháp QLBVR dựa vào cộng đồng là phát huy những yếu tố tích cực của luật tục, phong tục, tập quán, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, bản phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng Cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ). LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000).
Theo Arnold (1992) đưa ra: Lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với trồng rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên. Ở Việt Nam, hiện nay có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận. Nhưng có thể tạm hiểu LNCĐ là quá trình Nhà nước giao rừng và đất rừng cho cộng đồng để họ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng theo hướng bền vững nhằm góp phần cải thiện sinh kế của cộng đồng ngày một tốt hơn. Theo các nhà khoa học thì hiện nay ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau: 6 - Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng.
Đó là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, rừng di tích văn hóa lịch sử…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng để quản lý bảo vệ và hưởng lợi. - Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vào cộng đồng): Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng. Hình thức này có thể chia thành hai đối tượng: + Đối tượng thứ nhất rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp.
+ Đối tượng thứ hai, rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước (rừng do UBND xã quản lý theo QĐ 245/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng. Ngoài ra cộng đồng còn tham gia hỗ trợ các chủ 7 rừng chữa cháy rừng, dập dịch sâu bệnh hại, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng khi có yêu cầu của chủ rừng và điều động của cấp có thẩm quyền. Từ sự phân tích trên đây cho thấy thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ cộng đồng quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng.
Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác. Với những lý luận như trên, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng. Chiến lược và chính sách QLBVR dựa vào cộng đồng Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt nam và các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau: - Nâng cao vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cộng đồng trong QLBVR ; Phát huy những luật tục, phong tục tập quán tích cực của cộng đồng để QLBVR theo hướng bền vững.
- Tăng cường các giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đào tạo, tập huấn cho cộng đồng để thực hiện tốt nhiệm vụ QLBVR. -Xây dựng hệ thống tuần tra BVR, PCCCR ở trên từng địa bàn cơ sở với sự tham gia tích cực của người dân. Quan điểm về QLBVR dựa vào cộng đồng - Thứ nhất, Nhà nước chỉ tạo hành lang pháp lý, không can thiệp sâu vào những quyết định cụ thể về bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng của cộng đồng. Điểm này thể hiện rõ nét nhất đối với quản lý những khu rừng làng, rừng bản được cộng đồng quản lý theo truyền thống.
- Thứ hai, Nhà nước giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hỗ trợ cộng đồng về vốn, kỹ thuật… để quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, khai thác sử dụng rừng. - Thứ ba, Nhà nước thông qua các tổ chức của Nhà nước, khoán cho các cộng đồng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng. Cộng đồng chỉ là người làm thuê, được hưởng tiền công khoán và một phần sản phẩm trên đất rừng nhận khoán tuỳ theo thời gian và công sức mà mình bỏ ra. - Thứ tư, Nhà nước có vai trò điều phối và tạo điều kiện các tổ chức khác cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, ký hợp đồng về đào tạo, khuyến lâm và chuyển giao kỹ thuật cho cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng.
-Thứ năm, quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản thì không thành công. Hoạt động QLBVR chỉ đạt được hiệu quả cao khi có biện pháp khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực và chính sách hỗ trợ kinh tế - xã hội đối với cộng đồng dân cư thôn, bản, bởi bảo vệ rừng cũng chính là người dân mà phá rừng cũng chính là người dân. Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở ngoài nước Ở Nêpan, Lâm nghiệp cộng đồng ( LNCĐ ) mới xuất hiện nổi bật là sự tham gia của người dân vào quản lý rừng. Ngày nay LNCĐ trở thành nguồn thu nhập và cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn.
Với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế, chương trình này đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành công trong giai đoạn này (Paudel,2000) 9 Ở Ấn Độ, hình thức “đồng quản lý rừng” đang được mở rộng nhanh chóng bởi cải cách thể chế trong chính sách về rừng đang được thực thi với dấu hiệu rõ nhất là phi tập trung hóa và dân chủ hóa quản lý nguồn tài nguyên.